Posts Tagged ‘Nguyện vọng 2’

Mùa tuyển sinh năm 2010: Ào ạt “mở” rồi… “đóng”?

Kết thúc mùa tuyển sinh 2010, nhiều trường phải đóng cửa nhiều ngành học. Sự “thất thu” này không phải năm nay mới có mà đã diễn ra một vài năm gần đây. Điều đáng nói là ngay cả các trường công lập cũng thất thu. Chuyện này dường như là điều không tưởng những năm trước đây. Tại sao?

Ngành “nóng” hết “hot”

Cách đây 3 năm, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị đào tạo theo nhu cầu xã hội ngành Công nghệ thông tin (CNTT) có đưa ra dự báo nhân lực ngành này trong thời gian tới sẽ cần rất nhiều. Thế nhưng, mới chỉ sau hai mùa tuyển sinh, đến nay, ngành này đã hết “hot”.

Ngành học nào đang “hot”?

GS.Trần Hữu Nghị – Hiệu trưởng Trường ĐH Dân lập Hải Phòng cho biết, năm nay ngành CNTT của trường không thể tuyển sinh, trường đang không biết giải quyết thế nào với số giảng viên theo dạy ngành này của trường. Trường ĐH Đồng Tháp năm nay cũng quyết định ngừng tuyển sinh ba ngành. Ngành chứng khoán cũng chỉ làm “nóng” được một mùa tuyển sinh, còn sau đó cũng trở về im hơi lặng tiếng. Sự mất “ngôi” không chỉ diễn ra với CNTT, chứng khoán mà còn với một số ngành khác. Đặc biệt là những ngành liên quan đến kỹ thuật, nông – lâm – ngư.

Trong khi đó, năm nay, tuyển sinh lại chứng kiến sự lên ngôi của nhóm ngành kinh tế. ĐH Tài chính – Marketing có khoảng 32.000 hồ sơ, tăng gấp đôi năm 2009, CĐ Kinh tế đối ngoại có trên 39.000 hồ sơ, tăng 18% so với năm trước. Thống kê tại nhiều trường, số hồ sơ xét tuyển NV2 vào nhóm ngành kinh tế chiếm 60-80%. Tại các trường còn tuyển NV3, số hồ sơ vào các nhóm ngành này cũng chủ yếu. Điểm chuẩn vào những nhóm ngành này khá cao. Kể cả những trường phải tuyển NV3 thì nhóm ngành này vẫn “hút” nhiều thí sinh.

“Nóng” – “lạnh” bất thường, vì sao?

Ông Nguyễn Tất Cảnh – Hiệu phó Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội – cho rằng hiện nay, có rất nhiều ngành mà sinh viên ra trường không thiếu việc làm nhưng lại khó tuyển sinh. Trong khi đó, ông cũng cho biết, ngành Công nghệ Sinh học lại rất hút thí sinh dù ra trường không dễ xin việc. “Có thể trong thời gian vừa qua, Chính phủ nhắc nhiều đến Công nghệ sinh học nên thí sinh nhầm tưởng ngành này đang cần nhiều nhân lực” – ông Cảnh nhận định.

Ông Phạm Hồng Sơn – Phó Trưởng khoa Thú y, ĐH Nông Lâm (Huế) cho rằng do thông tin đến với người học chưa chính xác nên khiến việc chọn ngành của thí sinh bị “lệch”.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng điều này lại xuất phát từ việc giao chỉ tiêu và xin chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường. Các chuyên gia nhận định sự tùy tiện, thiếu căn cứ khoa học trong việc định hướng đào tạo nguồn nhân lực cũng như định hướng nghề nghiệp cho người đi học của ngành giáo dục đã gây ra khủng hoảng thiếu, thừa lao động giữa các ngành nghề trong vài năm tới. Bộ hiện giao chỉ tiêu cho các trường dựa vào năng lực đào tạo cũng như đề xuất của các trường, không dựa vào nhu cầu thực tế. Bởi dù có dựa vào thực tế thì Bộ cũng không biết dựa vào đâu. Các trung tâm dự báo nhân lực hiện đã thực sự hoạt động có hiệu quả? Còn các trường, cứ ngành nào có vẻ “hot” thì xin mở. Sự mở ngành “vô tội vạ” đã dẫn đến hậu quả phải đóng cửa do không tuyển được thí sinh là điều tất yếu.

Không biết đến bao giờ, giáo dục ĐH Việt Nam mới thực sự đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động?

Uyên Na

Tuyển sinh là việc của trường

TT – Phương thức tuyển sinh hiện nay đang có gì bất ổn và có còn phù hợp với thực tế? Cần thay đổi như thế nào? Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Lê Trường Tùng – hiệu trưởng Trường ĐH FPT, một trường đang áp dụng phương thức tuyển sinh riêng – đánh giá:
Cán bộ phòng đào tạo Trường ĐH Sài Gòn giải đáp thắc mắc cho thí sinh trước ngày thi. Rất nhiều quy định bắt buộc thí sinh phải tuân thủ khi tham dự kỳ thi tuyển sinh – Ảnh: Như Hùng

Bộ đang tuyển sinh giúp các trường (!)

Quan điểm của tôi là tuyển sinh – tuyển chọn người vào học – là việc của trường. Mỗi trường có một chiến lược phát triển riêng, mục tiêu đào tạo cụ thể, các điều kiện mọi mặt khác nhau… nên cần có phương thức tuyển sinh riêng.

Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang tuyển sinh giúp các trường. Tất cả các trường đều tuyển như nhau dựa trên cùng một lý thuyết học phổ thông tốt thì học ĐH tốt, chưa kể đến tính may rủi do sự lựa chọn của thí sinh…

Cách tuyển sinh của trường chúng tôi vẫn phù hợp với quy chế tuyển sinh nhưng tạo cho trường một sự chủ động nhất định, chọn được đầu vào phù hợp. Ít nhất chúng tôi có quyền lắc đầu đối với những người mình nghĩ rằng không đủ tố chất theo học.

– Cách thi tuyển sinh hiện nay của Bộ GD-ĐT được các trường đồng loạt áp dụng dựa trên giả thuyết: học phổ thông tốt sẽ học ĐH tốt. Cách thi tuyển là kiểm tra những kiến thức đã học. Như vậy, nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng được yêu cầu chọn được những thí sinh phù hợp nhất với việc học ĐH, học ở những trường ĐH khác nhau.

Quan điểm của tôi là tuyển sinh – tuyển chọn người vào học – là việc của trường. Mỗi trường có một chiến lược phát triển riêng, mục tiêu đào tạo cụ thể, các điều kiện mọi mặt khác nhau… nên cần có phương thức tuyển sinh riêng.

Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang tuyển sinh giúp các trường. Tất cả các trường đều tuyển như nhau dựa trên cùng một lý thuyết học phổ thông tốt thì học ĐH tốt, chưa kể đến tính may rủi do sự lựa chọn của thí sinh…

Cách tuyển sinh của trường chúng tôi vẫn phù hợp với quy chế tuyển sinh nhưng tạo cho trường một sự chủ động nhất định, chọn được đầu vào phù hợp. Ít nhất chúng tôi có quyền lắc đầu đối với những người mình nghĩ rằng không đủ tố chất theo học.

Hình thức tuyển sinh hiện nay là chỉ nhằm đóng cái dấu đủ điều kiện học ĐH hay không bằng điểm sàn. Phân thí sinh ra làm hai loại, gây cảm giác không đạt điểm sàn giống như “công dân hạng hai”. Quan niệm xã hội hiện nay cho rằng vào trung cấp, CĐ là do không vào nổi ĐH. Cách thi cử hiện nay đang “tiếp tay” cho tâm lý và cách nghĩ đó của xã hội.

Đến lúc nào đó học ĐH là quyền, đủ tiền, thích học là được học, nếu vì điều kiện gì đó hoặc sở thích thì có thể học bằng những con đường khác nhau. Cách tuyển sinh này cũng quá nhấn mạnh đầu vào. Cách thức tổ chức tuyển sinh là do bộ không tin trường, không tin địa phương có thể làm tốt. Không thể phát triển, không thể có đổi mới và đột phá nếu như dựa trên sự không tin tưởng lẫn nhau.

* Nhưng các nhà quản lý giáo dục luôn lý giải sở dĩ phải áp dụng phương thức tuyển sinh như hiện nay vì giáo dục ĐH ở VN chưa giải quyết được mối quan hệ cung – cầu. Khi nhu cầu học ĐH luôn vượt quá khả năng đáp ứng thì phải tuyển chọn gay gắt, chặt chẽ?

- Cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn tâm lý xã hội đang cho rằng quan hệ cung – cầu là một nguyên nhân cơ bản để áp dụng hình thức tuyển sinh hiện nay nhưng thực tế không phải vậy. Cung – cầu trong giáo dục ĐH hiện nay đã có những thay đổi. Theo tôi, nó không còn ở tình trạng căng thẳng, khi cầu vượt quá cung nhiều như trước đây, buộc chúng ta phải lựa chọn những hình thức tuyển sinh khắt khe và căng thẳng. Như kỳ thi tuyển sinh năm nay, báo chí đã phản ánh nhiều trường không tuyển được.

Thực tế mỗi năm chúng ta có khoảng 1 triệu HS hoàn thành chương trình THPT. Trong đó khoảng 850.000 học sinh tốt nghiệp. Khoảng 85-90% trong số đó thi ĐH, cộng với số thí sinh tự do dồn lại từ năm trước, tôi ước chừng có khoảng 900.000 thí sinh thực tế. Đó chính là cầu.

Trong khi tổng chỉ tiêu tuyển mới của ĐH, CĐ chính quy được công bố là 560.000, chưa tính những số chỉ tiêu được bổ sung cho các trường, ngành mới. Bên cạnh đó còn các loại chỉ tiêu như đào tạo theo nhu cầu xã hội, liên thông, tại chức…

Chưa kể cả nước có 135 trường đào tạo hệ CĐ nghề với trung bình 1.500 chỉ tiêu/trường. Như vậy, nhìn vào nguồn đầu vào ĐH và thực tế xét tuyển NV2, NV3 khó khăn của các trường ĐH, CĐ hiện nay sẽ thấy chúng ta đã ở tình trạng mấp mé cung vượt cầu chứ không phải ngược lại. Đã đến lúc không phải các trường ĐH muốn làm gì cũng được, người học đã có quyền và nhiều cơ hội lựa chọn. Nếu không hấp dẫn, người học sẽ không chọn trường đó.

* Vậy theo ông, phương thức tuyển sinh ĐH cần thay đổi theo hướng như thế nào?

- Cải tiến tuyển sinh trước hết là phải xem lại quan hệ cung – cầu đối với giáo dục ĐH hiện nay. Phải nhìn nhận lại mối quan hệ này, từ đó có cách nhìn khác, cách tiếp cận khác để giảm căng thẳng, áp lực không cần có đối với việc tuyển chọn đầu vào ĐH. Có rất nhiều giải pháp đưa ra hiện nay mang tính tình thế. Ví dụ như gần đây tôi thấy lãnh đạo Bộ GD-ĐT nói việc chỉ tổ chức một đợt thi ĐH thay vì hai đợt… Những giải pháp này chỉ là cải tiến nho nhỏ, không giải quyết được tận gốc của vấn đề, không tạo ra sự thay đổi.

Tuyển sinh ĐH, CĐ đang cần một quá trình chuyển đổi phương thức mà cuối cùng là giao hết cho các trường, là việc của các trường ĐH, CĐ. Hiện nay do bối cảnh xã hội có thể chưa làm được ngay nhưng phải bắt đầu làm sớm, dần dần chuyển về để trường thực hiện.

* Cơ quan quản lý giáo dục lo ngại không tuyển sinh có thể dẫn đến tình trạng các trường tuyển sinh với chất lượng thấp?

- Tôi luôn cho rằng việc tuyển sinh là của các trường. Các trường có thể chịu trách nhiệm trước xã hội về cả một tổng thể lớn là quá trình đào tạo, dạy – học, cấp bằng tốt nghiệp… Vậy tại sao lại không thể chịu trách nhiệm về việc tuyển sinh. Tuyển sinh là khâu dễ nhất trong cả quy trình đào tạo ĐH. Phải tập trung cho khâu tuyển sinh như hiện nay mất sức, mất quá nhiều thời gian. Nếu cầu thật sự vượt cung đáng kể thì cần có bộ lọc. Nhưng khi cung và cầu đã xấp xỉ thì nên coi việc ràng buộc bằng xác định chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm theo những tiêu chí nhất định là một sự tính toán, hạn chế cho các trường rồi. Quan trọng nhất vẫn là kiểm soát, sàng lọc trong quá trình đào tạo.

Chọn ngành kinh tế: Đua vào ngành thời thượng

Kỳ thi tuyển sinh ĐH – CĐ năm nay, nhiều học sinh chọn ngành kinh tế, khiến các thầy cô cho rằng đây là hiện tượng bất thường.

Theo dự báo của các nhà tuyển dụng, không dễ có việc làm ưng ý với những người tốt nghiệp ngành này, và cuộc đua vào nhóm ngành kinh tế đang đầy rủi ro.

Mùa tuyển sinh 2010, Trường ĐH Tài chính marketing đã gây choáng với số lượng hồ sơ đăng ký dự thi tăng vọt đến 23.000, trong khi chỉ tiêu tuyển chỉ có 1.600 SV hệ ĐH. Và còn gây choáng hơn nữa khi điểm trúng tuyển khối A là 16,5 và khối D1 đến 17,5. Ở nhiều trường, 20-30 thí sinh chen nhau một suất vào ĐH, CĐ. Điều này đã đẩy điểm trúng tuyển nhóm ngành này lên cao ngất ngưởng, nhiều thí sinh trên 15 điểm rớt ngậm ngùi.

Chưa dừng cuộc đua

Ở mức 15-16 điểm khối A, thí sinh các tỉnh phía Nam có thể đường hoàng trúng tuyển nguyện vọng 1 công lập nhóm ngành kỹ thuật công nghệ với cơ hội việc làm rộng mở. Cũng với mức điểm này, hàng chục ngàn thí sinh chọn ngành kinh tế phải tìm cơ hội nguyện vọng 2, 3. Thế nhưng cuộc đua vào nhóm ngành kinh tế không dừng lại.

Tại trung tâm tuyển sinh Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM, một thí sinh nam cầm giấy báo kết quả 16 điểm khối B xin nộp hồ sơ vào ngành quản trị kinh doanh. Hồ sơ không được nhận vì ngành quản trị kinh doanh trường này chỉ tuyển khối A. Cán bộ tuyển sinh khuyên tìm một ngành khác, trường khác khối B phù hợp. Bạn này vẫn cứ nài nỉ xin được học ngành quản trị kinh doanh. Bạn khóc, người mẹ đi cùng cũng khóc và kể gia cảnh ở quê nghèo khó, rằng con trai bà học rất giỏi môn hóa học nên mới thi ĐH khối B. “Thật không hiểu vì sao học giỏi hóa, thi khối B lại chọn ngành quản trị kinh doanh!” – cán bộ tuyển sinh tiếc rẻ.

Có quá nhiều hồ sơ nguyện vọng 2 đổ vào nhóm ngành kinh tế, đặc biệt là ngành quản trị kinh doanh. Thực tế tuyển dụng tại trung tâm việc làm Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM, SV ngành quản trị kinh doanh ít được tuyển dụng, trong khi SV tốt nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm, công nghệ hóa, cơ khí được chào mời với lương cao. Rất nhiều lần khi tư vấn cho thí sinh, giám đốc trung tâm tuyển sinh trường này nêu thực tế tuyển dụng đầu ra để giúp thí sinh chọn ngành dễ xin việc nhưng hầu hết vẫn nhất định đua vào ngành quản trị kinh doanh. Trưởng phòng đào tạo một trường ĐH ngoài công lập bức xúc: “Không có cách thuyết phục thí sinh. Không hiểu vì sao các em mê quản trị đến vậy…”.

Câu chuyện của Bích Thủy, ở Nhà Bè, TP.HCM, là một nỗi ngậm ngùi khác. Muốn học ngành quản trị nhân sự, Thủy nộp hồ sơ nguyện vọng 2 với phiếu điểm 16 điểm ĐH khối A vào một trường CĐ kinh tế tại TP.HCM chỉ vì nghe nói ở đó có ngành quản trị nhân sự. Đến khi nộp hồ sơ mới biết trường đó không có ngành quản trị nhân sự. Đáng tiếc hơn nữa khi Thủy cho biết chọn ngành này chỉ vì bạn thân của mình cũng học ngành đó nhưng chưa rõ học xong ra trường làm gì!

Sự chọn lựa thông minh?

Một khảo sát nhỏ với 18 HS lớp 12 chuyên lý và lớp không chuyên Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM. Với câu hỏi: “Bạn sẽ làm gì sau khi rời trường THPT?”, chỉ một bạn gái cho biết sẽ thi kiến trúc, sau này làm kiến trúc sư. Còn lại tất cả đều dự định thi vào trường kinh tế, muốn làm doanh nhân, giám đốc…

Khi được hỏi: “Là HS trường chuyên, trường đào tạo nhân tài, có bạn nào mơ ước sẽ làm được những công trình nghiên cứu như GS Ngô Bảo Châu?”, nhiều bạn đã không ngại ngần trả lời: “Dạ, không”. Lý lẽ của các bạn là xã hội ngày càng năng động hơn, lớp trẻ chọn ngành kinh tế chính vì sự năng động của ngành này. Có bạn cho rằng kinh tế là ngành dễ học, dễ kiếm tiền. Hầu hết đều tự tin sẽ đậu trường kinh tế, có năng lực làm quản lý kinh tế.

Ước mơ đậu ĐH ngành mình yêu thích là điều chính đáng của mỗi người. Thế nhưng, trước làn sóng bạn trẻ đua nhau chọn nhóm ngành kinh tế, TS Nguyễn Toàn, chuyên gia tư vấn hướng nghiệp, hiệu trưởng Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức (TP.HCM), cho rằng đó là điều bất thường tai hại. Rõ ràng không bình thường khi ai cũng chỉ hướng đến nhóm ngành kinh tế trong khi những ngành nghề kỹ thuật – công nghệ (tự động hóa, viễn thông, cơ khí, thực phẩm…) đang thiếu nhân lực và các ngành khoa học cơ bản (toán học, hóa học, vật lý, sinh học, khoa học vật liệu…) cũng rất cần nhân tài. Không phải đến bây giờ, ngay sau mùa tuyển sinh 2010, dự đoán trong 3-4 năm tới sẽ khan hiếm nhân lực cho kỹ thuật công nghệ.

Ông Trần Anh Tuấn – phó giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM – lo ngại cho tương lai có thể một số ngành kỹ thuật công nghệ phải nhập khẩu lao động trình độ cao từ nước ngoài, trong khi số đông SV tốt nghiệp nhóm ngành kinh tế phải xếp hàng chờ việc. Thực trạng ngày càng nhiều trường mở ngành kinh tế, HS đua vào ngành kinh tế trong khi đầu vào nhóm ngành kỹ thuật công nghệ đang ít dần, theo ông Tuấn, đây sẽ là nguyên nhân gây ra “khủng hoảng thiếu – thừa lao động giữa các ngành nghề trong vài năm tới”.

Ông Nguyễn Văn Sang – phó giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Thanh Niên – cho biết: “Không phải em nào theo học kinh tế cũng thành đạt. Tại trung tâm, số hồ sơ xin việc của những cử nhân kinh tế đang tồn đọng nhiều”. Anh Phạm Mỹ – giám đốc một công ty thường xuyên tuyển dụng nhân sự tại Tân Bình – và nhiều đơn vị giới thiệu việc làm dẫn ra thực trạng chung: với một vị trí tuyển dụng vào ngành kinh tế có thể nhận được 40-50 hồ sơ.

Để tìm được việc, ngoài bằng cấp, ứng viên phải am hiểu các ngành nghề mình muốn vào làm. Chẳng hạn: kế toán phải có kinh nghiệm làm việc, ngành quản trị đòi khả năng và kinh nghiệm quản lý, ngành marketing đòi hỏi phải biết cả multimedia, kỹ năng về web, xây dựng video clip và đặc biệt là các ý tưởng sáng tạo trong công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm…

Cơ hội việc làm ngành kinh tế sẽ rộng mở cho những ai rất giỏi. Đa số còn lại, nói như ông Trần Anh Tuấn, sẽ không dễ tìm được một công việc ưng ý. Ở góc nhìn nhà đào tạo, TS Nguyễn Văn Ngãi, nguyên trưởng khoa kinh tế Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, khuyên các bạn hãy cẩn trọng với ngành quản trị kinh doanh. Tên gọi rất oai nhưng không phải bạn nào cũng hiểu rõ ngành này học gì, ra trường làm gì, liệu mình có phù hợp không…

Hiểu nôm na, học quản trị có thể làm quản lý, nhưng thực tế đầu ra các nhà tuyển dụng luôn muốn tuyển người giỏi chuyên môn, cứ phải tốt vị trí chuyên môn trước đã sau này mới có chuyện được bố trí vào vị trí quản lý. Trong khi ngành quản trị đào tạo kiến thức chung theo diện rộng, SV học ngành này khó có thể làm việc chuyên môn, nghiệp vụ, cơ hội được tuyển dụng sẽ rất hạn chế.

Còn ThS Hứa Minh Tuấn, trưởng phòng quản lý đào tạo Trường ĐH Tài chính marketing cho rằng: “Ngành kinh tế dễ học nhưng không phải ai cũng học tốt và không hề dễ kiếm được việc đối với sinh viên yếu kém!”. Các chuyên gia tư vấn hướng nghiệp đều khuyên chọn kinh tế không có gì sai nhưng cần hiểu rõ nó trước khi chọn và đừng ảo tưởng hay mơ hồ ngành nghề nào đó sẽ giúp mình mau giàu, mau làm “sếp”. Sự chọn lựa thông minh nhất là chọn đúng ngành, hợp với năng lực của chính mình và dễ tìm việc làm. Đó mới là con đường ngắn nhất để thành đạt.

Học kinh tế có thực sự “kinh tế”?

(SVVN)Khi việc xét tuyển NV3 khép lại, cũng có nghĩa là một mùa tuyển sinh chính thức kết thúc. Những trường đào tạo nhóm ngành Kinh tế có thể “ung dung” đào tạo, trong khi đó, nhiều ngành tại các trường lại đang thiếu trước, hụt sau số thí sinh vào học.

Kinh tế: Hút thí sinh

Vài năm nay, Kinh tế trở thành ngành “hot” trong sự lựa chọn của thí sinh. Số hồ sơ đăng ký dự thi vào các trường kinh tế tăng vọt, điểm chuẩn cũng vì thế tăng lên. Nếu như mọi năm, trường ĐH Thương mại là địa chỉ được nhiều thí sinh “vừa tầm” lựa chọn để xét NV2 thì năm nay, điểm chuẩn NV2 của trường ở mức cao ngất ngưởng. Ninh Thị Nương (Nam Định) không đỗ NV1 vào trường ĐH Sư phạm Hà Nội với 19,5 điểm. Nhận thấy ngành Quản trị thương hiệu của trường ĐH Thương mại tuyển 50 chỉ tiêu NV2, Nương đã nộp hồ sơ. Nhưng đến khi công bố điểm chuẩn, Nương mới biết mình thiếu có nửa điểm và tỏ ra rất nuối tiếc.

Có thể thấy, 2010 là năm lên “ngôi” của các nhóm ngành Kinh tế. Trường ĐH Tài chính – Marketing có 32.000 hồ sơ, tăng gấp đôi năm 2009; Trường CĐ Kinh tế đối ngoại có trên 39.000 hồ sơ, tăng 18% so với năm trước. Thống kê tại nhiều trường, số hồ sơ xét tuyển NV2 vào nhóm ngành Kinh tế chiếm từ 60 – 80%. Tại các trường còn tuyển NV3, số hồ sơ vào các nhóm ngành này cũng là chủ yếu.

Tại sao?

Một chuyên gia giáo dục cho rằng, những kiến thức phải học của nhóm ngành Kinh tế – Quản trị kinh doanh không khó, vừa sức đối với những thí sinh có học lực vừa phải, trong khi đó, nhóm ngành Kỹ thuật luôn được coi là “khô – khó – khổ” khiến ít thí sinh quan tâm.

Tuy nhiên, theo quan điểm của những nhà nghiên cứu thị trường lao động thì phần lớn thí sinh thích làm việc hành chính, “sạch sẽ, sang trọng” và học Kinh tế đáp ứng được nhu cầu này. Cũng có ý kiến khác lại cho rằng, vì thị trường lao động còn đang “dễ dãi”, học ngành này có thể làm ngành khác nên nhóm ngành Kinh tế được ưu tiên trong chọn lựa của thí sinh vì dễ thích ứng với thực tế vừa nêu.

Bộ – thiếu căn cứ khoa học, trường – cần kinh phí

Mặc dù vậy, nguyên nhân cơ bản nhất, có lẽ lại xuất phát từ chính Bộ GD – ĐT và từ các trường. Năm 2010, tính riêng chỉ tiêu tuyển sinh vào các nhóm ngành Kinh tế – Tài chính, Ngân hàng của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước là 102.780 chỉ tiêu, chiếm hơn 18%. Hiện nay, Bộ GD-ĐT giao chỉ tiêu dựa trên đề xuất cũng như năng lực đào tạo của từng trường chứ không căn cứ vào thị trường lao động. Như các nhà phân tích từng bình luận, chính sự tùy tiện, thiếu căn cứ khoa học trong việc định hướng đào tạo nguồn nhân lực cũng như định hướng nghề nghiệp cho người đi học của ngành giáo dục đã gây ra khủng hoảng thiếu hoặc thừa lao động giữa các ngành nghề trong những năm qua và sẽ kéo sang vài năm tới.

Trong khi đó, đào tạo Kinh tế được cho là “ngon ăn” hơn cả khi không phải đầu tư nhiều, lợi nhuận cao nên số trường đại học, cao đẳng xin mở ngành này ngày càng nhiều. Khoa CNTT (ĐH Thái Nguyên) thì có Tin học kinh tế, Học viện Báo chí – Tuyên truyền có Quản lý kinh tế, Học viện Công nghệ Bưu chính – Viễn thông phải có Quản trị kinh doanh, Học viện Ngoại giao phải có Kinh tế quốc tế… Dường như trường nào (dù chẳng phải trường khối Kinh tế) cũng phải đào tạo những ngành học gắn với chữ “kinh tế”.

Ngược lại, theo nhận định của ông Nguyễn Văn Sang, Phó Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên thì không phải ai theo học Kinh tế cũng thành đạt. Tại Trung tâm này, số hồ sơ xin việc của các cử nhân Kinh tế đang tồn đọng rất nhiều. Ngành Quản trị kinh doanh và Markerting đang thu hút nhiều nhân lực nhưng đòi hỏi ứng cử viên phải năng động, giỏi giang trong công việc. Riêng với người làm marketing thì phải biết cả multimedia, web, xây dựng video clip… Nhưng số ứng viên vào ngành này cũng rất đông, thông báo tuyển một nhân sự thì có thể nhận được 40 – 50 hồ sơ.

Hà Vi

Thí sinh vẫn được nhập học

TT – Chiều 6-10, ông Nguyễn Mạnh Hùng – hiệu trưởng Trường ĐH Hồng Bàng – cho biết thí sinh thi ĐH được 11 điểm (đã làm tròn) đóng 8 triệu đồng cho một cá nhân để “mua” giấy báo trúng tuyển bậc ĐH Trường ĐH Hồng Bàng đã nhập học bậc CĐ của trường.

Vụ “Thực hư việc bán suất vào đại học”:

Trang thông tin điện tử của Trường ĐH Hồng Bàng đã “bổ sung” tên, mã số sinh viên thí sinh này vào ngành quản trị kinh doanh (C68) trong danh sách trúng tuyển nguyện vọng 2. Theo ông Hùng, trường có một số “ưu đãi” cho tân sinh viên này như đóng 50% học phí để được nhập học thay vì 100% như những thí sinh khác và giảm 15% học phí trong suốt khóa học để “chia sẻ trách nhiệm” với phụ huynh, thí sinh.

Trong một diễn biến khác, sau khi Tuổi Trẻ phản ánh, Bộ GD-ĐT đã có công văn chỉ đạo Trường ĐH Hồng Bàng báo cáo vụ việc. Sau đó, Trường ĐH Hồng Bàng có văn bản báo cáo gửi bộ vụ việc “chẳng qua là sự nhầm lẫn trong khâu in giấy gọi trúng tuyển”.

Trước nhiều ý kiến cho rằng khó có thể xảy ra nhầm lẫn đúng với thí sinh “chạy” giấy trúng tuyển, chiều 6-10, ông Đỗ Quốc Anh – giám đốc cơ quan đại diện Bộ GD-ĐT tại TP.HCM – cho biết cơ quan này đang phối hợp với A25 (Bộ Công an) tiến hành làm rõ vụ việc.

HÀ BÌNH

Xét tuyển nguyện vọng 3: Càng rao, càng ế ẩm

TP – Hôm nay (30-9) là thời hạn cuối nhận hồ sơ xét tuyển NV3 vào các trường ĐH, CĐ. Tuy nhiên, đến ngày 29-9, nhiều trường vẫn trong cảnh “dài cổ” chờ thí sinh.

Ảm đạm chợ chiều

Tương tự giai đoạn nộp hồ sơ NV2, thí sinh và phụ huynh chỉ dồn hồ sơ NV3 vào một số ngành, khiến nhiều ngành khác cận kề ngày hết hạn nhận hồ sơ vẫn thiếu rất nhiều chỉ tiêu.

Theo thống kê chưa đầy đủ của ĐH Hùng Vương TP HCM, nhiều ngành có số hồ sơ xét tuyển rất ít là Công nghệ thông tin: 37 hồ sơ/70 chỉ tiêu, Xây dựng: 19 hồ sơ/ 75 chỉ tiêu; Công nghệ sau thu hoạch: 10 hồ sơ/ 90 chỉ tiêu; Tiếng Nhật: 9 hồ sơ/ 40 chỉ tiêu.

Các ngành thuộc khối kỹ thuật của trường ĐH Kỹ Thuật Công nghệ TP HCM như: Cơ điện tử, Cơ khí tự động, Kỹ thuật điện cũng đang còn “đói” thí sinh. Chỉ tiêu NV3 của mỗi ngành là 50 nhưng đến chiều ngày 29-9 số hồ sơ xét tuyển NV3 mới chỉ khoảng 30 hồ sơ/ngành. Các trường khác như: ĐH Văn Hiến, ĐH Văn Hóa TP HCM cũng đang thiếu nhiều chỉ tiêu các ngành khối C.

Theo công bố chỉ tiêu NV3, các trường ĐH ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có chỉ tiêu nhiều nhất như: ĐH An Giang, ĐH Trà Vinh, ĐH Đồng Tháp đưa ra hàng trăm chỉ tiêu nhưng mới chỉ nhận được… vài chục hồ sơ.

Th.S Huỳnh Thị Hồng Vinh, Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo ĐH Đồng Tháp cho biết, hiện trường chỉ mới nhận hơn 80 hồ sơ xét tuyển NV3. Ngành Thư viện thông tin ở bậc CĐ chỉ mới nhận… 1 hồ sơ, Quản lý văn hóa bậc ĐH nhận được 2 hồ sơ; một số ngành khác như: Sư phạm tin, Sư phạm kỹ thuật công nghiệp, Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp mới nhận chưa tới 10 hồ sơ.

“Nhà trường dự tính ngưng đào tạo những ngành đó và chuyển thí sinh đã nộp hồ sơ xét tuyển sang ngành khác có cùng khối thi và cùng điểm chuẩn”, ThS. Vinh cho biết.

Tình trạng “đìu hiu” NV3 cũng diễn ra ở miền Trung. ĐH Tây Nguyên với gần 400 chỉ tiêu NV3 và điểm sàn xét tuyển chỉ ở mức điểm sàn của Bộ nhưng mới nhận được hơn 100 hồ sơ xét tuyển.

Ông Nguyễn Văn Hòa, Trưởng phòng Đào tạo cho biết: Các ngành xét tuyển NV3 đều có hồ sơ đăng ký nhưng chỉ có vài ba hồ sơ. Đặc biệt, các ngành như: nông nghiệp, lâm nghiệp (hệ CĐ) rất khó tuyển thí sinh. Trường dự kiến sang năm sẽ ngưng tuyển sinh ngành chăn nuôi – thú y vì năm nay quá ít thí sinh lựa chọn.

Ông Trương Trọng Ánh, Trưởng phòng Đào tạo trường ĐH Nha Trang cho biết: Trường tuyển NV3 tại phân hiệu ở Kiên Giang với 180 chỉ tiêu nhưng hiện tại mới chỉ nhận được chừng 30 hồ sơ xét tuyển.

Chương trình quốc tế (ĐH Bách khoa Hà Nội tuyển 500 chỉ tiêu nhưng mới tuyển được 200 người. Lãnh đạo của chương trình cho biết, qua 9 năm tuyển sinh nhưng không năm nào đủ thí sinh. Có thông tin cho biết, một số chương trình đào tạo quốc tế thậm chí cho nợ cả đầu vào cũng không tuyển đủ thí sinh.

Ông Đỗ Xuân Tùng, Phó Hiệu trưởng ĐHDL Thăng Long cho biết, một số trường chỉ tuyển được khoảng 1/3 chỉ tiêu thậm chí, có trường phản ánh trong cuộc họp về điểm sàn của Bộ rằng cần tuyển 3.000 chỉ tiêu nhưng chỉ tuyển được 300 thí sinh sau NV1; hoặc như có trường gọi tới 300% chỉ tiêu nhưng chỉ tuyển được 30 %…

Vì sao cạn nguồn tuyển ?

Vì sao lại có tình trạng cạn nguồn tuyển như vậy, trong khi Bộ GD&ĐT công bố nhiều thí sinh đạt trên điểm sàn?

Ông Đỗ Xuân Tùng cho biết, sở dĩ có nghịch lý này vì Bộ GD&ĐT tính toán nguồn tuyển trên lý thuyết lấp đầy chỉ tiêu các trường; số thí sinh có điểm trên mức sàn sẽ lấp đầy chỉ tiêu NV2, 3 của các trường.

“Nhưng nhà quản lý quên rằng thí sinh phía Bắc không dễ di chuyển vào phía Nam để học. Nhiều thí sinh không thi đỗ vào trường, ngành đã chọn, thay vì nộp hồ sơ NV2, 3 thì đợi thi lại vào năm sau. Cũng có nhiều lý do khác như: phân luồng chưa tốt, thiếu định hướng nghề nghiệp, tâm lý thí sinh thích làm thầy hơn làm thợ…”.

Vì vậy, theo ý kiến các nhà tuyển sinh, Bộ GD&ĐT phải tính toán lại từ khâu giao chỉ tiêu cho các trường, tổ chức thi đến các khâu: dự báo và xác định điểm sàn. Về phía các trường, ông Đỗ Xuân Tùng cho hay: phải tự nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu để thu hút người học.

Không còn thí sinh để xét tuyển NV3

TTO – Không nằm ngoài những dự đoán, kết thúc thời hạn nhận hồ sơ xét tuyển nguyện vọng (NV) 3 nhưng rất nhiều trường đại học (ĐH) phải kêu trời vì số lượng hồ sơ nhận được quá ít so với nhu cầu xét tuyển. Theo đánh giá của nhiều trường, đây là năm tuyển sinh khó khăn nhất kể từ khi áp dụng “ba chung”.
Thí sinh nộp bài thi môn Vật Lý ở đại học Công Đoàn – Ảnh: Vĩnh Hà

Là một trong số các trường công lập tại Hà Nội còn chỉ tiêu xét tuyển NV3, Học viện Quản lý giáo dục xét tuyển 170 chỉ tiêu NV3 khối A với mức điểm chỉ có 14. Nhưng đến chiều ngày 29-9, theo ông Trương Văn Châu – trưởng phòng đào tạo – trường còn thừa nhiều chỉ tiêu vì mới nhận được chưa đầy 100 hồ sơ dự tuyển.

Tương tự, trường ĐH Y Hải Phòng xét tuyển 142 chỉ tiêu cho năm ngành đào tạo. Nhưng theo bà Lương Trần Khuê – trưởng phòng Đào tạo – trường nhận được hồ sơ chưa đủ so với chỉ tiêu cần tuyển. Trong đó có ngành bác sĩ răng hàm mặt chưa nhận được hồ sơ nào. Ngành bác sĩ đa khoa cần tuyển 55 chỉ tiêu nhưng chỉ có hơn 20 hồ sơ nộp. Duy nhất có ngành y học dự phòng nhận được hồ sơ dự tuyển dư dả so vớ chỉ tiêu cần tuyển.

Bà Khuê cho biết trước đó, khi gọi thí sinh trúng tuyển NV1, trường đã tính đến lượng thí sinh ảo và đã gọi dư từ 150-200% so với chỉ tiêu tùy theo từng ngành nhưng lượng thí sinh đến nhập học vẫn thiếu dẫn đến phải xét tuyển bổ sung NV3.

Đối với các trường ngoài công lập, tình hình càng bi đát hơn. Trường ĐH dân lập Lương Thế Vinh còn 1.000 chỉ tiêu xét tuyển NV3 nhưng đến ngày 29-9 mới chỉ nhận được khoảng 300 hồ sơ. Ông Nguyễn Hữu Kiều, trưởng phòng Đào tạo cho hay “Xét tuyển cả ba đợt, đến hết NV3, trường cũng chỉ tuyển được khoảng 50% tổng chỉ tiêu. Con số này sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch đào tạo của nhà trường. Đây là năm tuyển sinh khó khăn nhất đối với trường trong mấy năm gần đây”.

Tình hình tuyển sinh của trường ĐH quốc tế Bắc Hà cũng không kém phần khó khăn khi trường chỉ nhận được tổng cộng cả ba NV là 150 hồ sơ so với 500 chỉ tiêu. Trong đó, theo ông Huỳnh Hữu Tuệ – hiệu trưởng nhà trường – đối với NV3, sau khi thông báo xét tuyển 400 chỉ tiêu, trường nhận được vỏn vẹn có 35 hồ sơ dự tuyển.

Từ trường ĐH Chu Văn An (Hưng Yên), ông Nguyễn Văn Duy – trưởng phòng đào tạo cho biết so với nhu cầu xét tuyển 1.000 chỉ tiêu NV3, đến ngày 29-9, trường mới nhận được có 100 hồ sơ. Nếu tính số thí sinh cả ba NV, năm nay trường chỉ tuyển được khoảng 50-60% chỉ tiêu.

Theo đánh giá của các trường, kể cả công lập và ngoài công lập, nguyên nhân của việc tuyển sinh khó khăn trong kỳ thi tuyển sinh năm nay là do thiếu nguồn tuyển. Trường nào rơi vào tình huống phải xét tuyển NV3 lại càng gặp khó khăn về nguồn tuyển và chỉ cần còn trên 300 chỉ tiêu, các trường chắc chắn đứng trước nguy cơ không thể tuyển đủ chỉ tiêu.

Thí sinh thi vào Học viện tài chính – Ảnh: Vĩnh Hà

Ông Nguyễn Hữu Kiều (trường ĐH dân lập Lương Thế Vinh- Nam Định) nhận xét “Nam Định là một trong những địa phương thí sinh có kết quả thi tuyển sinh cao nhất cả nước, tỷ lệ thí sinh đạt trên điểm sàn rất cao nhưng chúng tôi vẫn rất khó khăn, không còn thí sinh để tuyển. Vì năm nay các trường công lập còn phải xét tuyển đến mức điểm sàn thì làm gì còn nguồn tuyển cho các trường dân lập”.

GS Huỳnh Hữu Tuệ – trường ĐH quốc tế Bắc Hà cũng cho rằng năm nay không còn nguồn tuyển. Theo GS Tuệ, đến thời điểm này, việc xác định điểm sàn để giới hạn thí sinh đủ điều kiện xét tuyển vào ĐH đã không còn hợp lý vì trong giáo dục ĐH ở Việt Nam, cầu không còn vượt cung như trước. “Khái niệm điểm sàn là để bảo vệ chất lượng đào tạo là không chính xác vì chất lượng đào tạo đâu có phụ thuộc vào điểm sàn. Điểm sàn không phải là yếu tố mang tính ảnh hưởng quyết định đến chất lượng. Chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào quá trình đào tạo và sàng lọc người học”- GS Tuệ bày tỏ quan điểm- “Trước đây cần có sàn để giới hạn số lượng SV được tuyển chọn. Bây giờ cung – cầu đã không còn chênh lệch, theo tôi không cần thiết phải có điểm sàn”.

Ông Tuệ cũng chỉ ra rằng, trong hai năm gần đây, chỉ tiêu đào tạo của một số trường ĐH công lập thường thường được tăng quá nhanh, dẫn đến tình trạng các trường công lập cũng phải “vét” mới tuyển đủ chỉ tiêu.

Cũng với quan điểm này, ông Nguyễn Văn Duy (trường ĐH Chu Văn An) cho rằng điểm sàn năm nay được xác định chưa hợp lý so với tổng chỉ tiêu tuyển mới ĐH, CĐ năm 2010. Với mức điểm sàn, nhất là đối với khối A, và mặt bằng kết quả thi thực tế như năm nay, sẽ không đảm bảo nguồn tuyển so với tổng chỉ tiêu.

Còn theo bà Lương Trần Khuê, tỷ lệ ảo giữa hai khối A và B quá cao. Với qui định mức điểm chuẩn NV2, NV3 không được thấp hơn NV1 khiến những trường ĐH xét tuyển khối B không lấy đâu ra nguồn thí sinh để tuyển bổ sung. Bà Khuê dẫn chứng “Ngành bác sĩ răng hàm mặt của trường ĐH Y Hải Phòng chúng tôi có điểm chuẩn là 22,5. Do tỷ lệ thí sinh ảo của khối B quá cao, chúng tôi phải xét tuyển bổ sung nhưng không nhận được một hồ sơ dự tuyển nào vì làm gì có thí sinh nào đạt 22,5 điểm còn chưa trúng tuyển vào trường ĐH nào”.

Bà Khuê cũng kiến nghị năm tới Bộ GD-ĐT cần có giải pháp cải tiến qui trình tuyển sinh để các trường không bị rơi vào tình trạng thiếu nguồn tuyển như năm nay.

Nhiều ngành học trước nguy cơ không có sinh viên

VH- Trong lúc những ngành học như Kinh tế, Quản trị, Du lịch, Công nghệ, Tài chính, Ngân hàng, Y dược… có điểm chuẩn rất cao do năm nào cũng có đông thí sinh đổ xô vào đăng ký, thì một số ngành học khác lại có nguy cơ “xóa sổ” vì bị thí sinh “quên”.

Theo các trường, chính vì thí sinh tập trung các ngành học được cho là “hot” trên mà khi ra trường chưa hẳn các em đã dễ tìm được việc làm. Trong khi đó, xã hội đang rất cần nguồn nhân lực cho những ngành học đang bị “ế” này.

Do vậy, năm nào cũng thế, các trường đều phải vét đến nguyện vọng (NV) 3 nhưng vẫn chưa đủ chỉ tiêu. Cho nên, có ngành không thể mở được lớp vì quá ít thí sinh, ngành khá hơn một chút thì xin thêm thí sinh của những ngành “bà con” mới mong đủ số lượng cho một lớp học.

Hai ngành tiếng Trung và Trung Quốc học của Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học chỉ nhận được có 5-10 hồ sơ nộp vào NV 2 nên nguy cơ “đóng cửa” là khá lớn vì theo đại diện nhà trường, NV2 đã thế thì NV3 cũng không thấy khả quan. ĐH Hùng Vương thông báo xét tuyển NV3 cho khoảng 600 chỉ tiêu bậc ĐH và CĐ với điểm xét tuyển bằng điểm sàn. Tuy nhiên được biết, một số ngành học của trường năm nào cũng trong tình trạng thiếu sinh viên dù đã xét đến NV3.

PGS.TS Lê Văn Tiến, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương 3 cho biết, ngành Quản lý văn hóa – chuyên ngành Âm nhạc của trường rất khó tuyển sinh. Khó vì thí sinh ngại thi vào, bởi khi thi vào ngành này thí sinh vừa phải thi kiến thức văn hóa (môn Văn, Sử) rồi lại thi thêm năng khiếu âm nhạc. Năm nay chỉ tiêu của ngành này là 55 nhưng đến nay mới có 16 hồ sơ thi vào, trường phải đợi thêm NV3 nữa xem sao. Ngành Kinh tế gia đình – chuyên ngành Dinh dưỡng cộng đồng cũng mới được phân nửa chỉ tiêu do thí sinh còn thiếu thông tin về ngành học này. Có thí sinh nghe tên ngành “Kinh tế gia đình” cứ nghĩ đây là một hình thức ôsin cao cấp phục vụ dinh dưỡng trong những gia đình nhưng thực tế đây là một ngành mà xã hội rất cần, dự báo sẽ “hot” trong thời gian tới. Sinh viên tốt nghiệp ra trường sẽ làm chuyên viên dinh dưỡng ở các bếp ăn công nghiệp, khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, trường học, cơ sở dịch vụ… mà khảo sát thị trường cho biết nguồn nhân lực này đang rất cần nhưng lại rất thiếu. Ngoài ra, ngành Công tác xã hội của trường cũng đang trong giai đoạn “thăm dò” chứ chưa dám mở vì e ngại không tuyển được sinh viên.

Thầy Nguyễn Quốc Hợp, Trưởng phòng Quản lý đào tạo ĐH Văn Hiến nêu hàng loạt ngành học bị thí sinh “bỏ quên” như: Xã hội học, Tâm lý học, Ngữ văn, Văn hóa học, Việt Nam học, Đông phương học… Thầy Hợp cho rằng, đây là điều mà nhà trường rất trăn trở, bởi đó chính là những ngành học thuộc lĩnh vực xã hội – nhân văn mà ĐH Văn Hiến rất muốn duy trì, đúng với quan điểm, hướng đi của một trường chuyên đào tạo nguồn nhân lực xã hội – nhân văn, nhưng khổ thay thí sinh lại ồ ạt đăng ký vào những ngành kinh tế, du lịch của trường. Mặc dù lúc ra thông báo trường còn ghi rõ là thí sinh có điểm thi bằng điểm sàn là đậu ngay nhưng cũng không ăn thua. Thông thường, chỉ tiêu những ngành học trên từ 50-100 nhưng hết mùa tuyển sinh chỉ có chừng 60% thí sinh nộp hồ sơ, đến ngày học lại rơi rụng thêm một ít nữa.

PGS.TS Huỳnh Thanh Hùng, Phó hiệu trưởng ĐH Nông lâm cũng than vì các ngành học về cơ khí của trường chỉ tuyển có vài chục chỉ tiêu hằng năm nhưng thí sinh đăng ký vào luôn không đủ. Tương tự, các trường khác cũng cho biết, khối ngành kỹ thuật cũng chưa được thí sinh hăng hái nộp hồ sơ, trong khi đó là những ngành rất dễ tìm được việc khi ra trường. Theo đại diện các trường, có thể thí sinh chưa nắm được thông tin về nhu cầu nguồn nhân lực, lại ngại học tập và làm việc trong môi trường khó khăn, nhiều khói bụi, tiếng ồn…

Thùy Trang

Xét tuyển NV3: Thí sinh chê trường công

Đến ngày 30-9 là hạn chót nhận hồ sơ xét tuyển nguyện vọng 3, kết thúc kỳ thi vào ĐH, CĐ, thế nhưng các trường ĐH công lập lại đang hồi hộp chờ thí sinh.

Sau hơn mười ngày (từ 15-9) mà Trường ĐH An Giang chỉ nhận được 23 hồ sơ trong số 180 chỉ tiêu. “Vài ngày còn lại hồ sơ chắc cũng không bao nhiêu vì chỉ tiêu nguyện vọng (NV) 3 cũng là chỉ tiêu NV2 trước đây” – Tiến sĩ Trần Văn Thạnh, Trưởng phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng Trường ĐH An Giang, nói.

“Điểm bằng sàn, sao thí sinh chê?”

Đó là ưu tư của Tiến sĩ Nguyễn Văn Hòa, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Tây Nguyên, khi trao đổi với Pháp Luật TP.HCM. Với 320 chỉ tiêu nhưng đến nay trường mới nhận được hơn 100 hồ sơ các ngành bảo quản và chế biến nông sản, bảo vệ thực vật, khoa học cây trồng, chăn nuôi thú y, thú y, lâm sinh… “Có lẽ thí sinh nghĩ các ngành tuyển NV3 của trường thuộc nhóm ngành nông lâm nên khó tìm việc làm trong khi đây là những ngành đang cần nhiều nhân lực cho địa phương” – ông Hòa cho biết.

Khó khăn này cũng diễn ra ở Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM. Thạc sĩ Võ Văn Việt, Phó Trưởng phòng Đào tạo, cho hay NV3 trường có 470 chỉ tiêu tại TP.HCM, 175 chỉ tiêu tại phân hiệu Gia Lai và 250 chỉ tiêu tại phân hiệu Ninh Thuận nhưng chỉ nhận hơn 400 hồ sơ, chủ yếu cho cơ sở TP.HCM. “Trường thiếu trầm trọng chỉ tiêu cho hai phân hiệu mặc dù điểm trúng tuyển chỉ bằng điểm sàn và trường áp dụng Điều 33 Quy chế tuyển sinh là thí sinh phân hiệu Ninh Thuận được hưởng 1 điểm ưu tiên khu vực và 1,5 điểm ưu tiên đối tượng, thí sinh phân hiệu Gia Lai được hưởng ưu tiên khu vực và đối tượng 1 điểm nhưng vẫn vắng thí sinh” – ông Việt tâm tư.

Thí sinh lác đác nộp hồ sơ NV3 tại Trường ĐH Kỹ thuật công nghệ TP.HCM. Ảnh: QUỐC DŨNG

Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng, Phó Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Văn hóa TP.HCM, cho biết: “Trường nằm trong số hiếm các trường công lập tuyển khối C, D và R nhưng mới nhận khoảng 200 hồ sơ trong số 425 chỉ tiêu ĐH và CĐ. Hiện trường còn thiếu nhiều chỉ tiêu ngành bảo tàng học, phát hành xuất bản phẩm, thư viện thông tin, văn hóa dân tộc thiểu số”. Tương tự, Trường ĐH Đồng Tháp mới nhận tròm trèm 70 hồ sơ trong số 551 chỉ tiêu cho chín ngành chủ yếu thuộc khối C, D như công tác xã hội, quản lý văn hóa, thư viện thông tin, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, giáo dục chính trị…

Trường ĐH Thủ Dầu Một cũng không kém phần bi đát khi mới nhận được 70 hồ sơ trong số 357 chỉ tiêu cho sáu ngành kỹ thuật phần mềm, quản trị kinh doanh, kế toán, tiếng Anh, sư phạm ngữ văn, sư phạm lịch sử. Trường ĐH Trà Vinh xét tuyển 1.575 chỉ tiêu NV3 cho 12 ngành nhưng đến nay mới nhận hơn 100 hồ sơ mặc dù thí sinh nộp hồ sơ vào trường được hưởng ưu tiên khu vực 0,5 điểm, ưu tiên đối tượng cách nhau 1,5 điểm…

Cao đẳng cũng cạn nguồn tuyển

Ở NV3 này, Trường CĐ Sư phạm Trung ương TP.HCM phải tuyển thêm khối C ngoài khối R cho ngành quản lý văn hóa với 40 chỉ tiêu và ngành kinh tế gia đình với 20 chỉ tiêu nhưng hai ngành này chỉ mới nhận khoảng 20 hồ sơ. Tiến sĩ Tôn Thất Lãng, Trưởng phòng Đào tạo Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, cho biết với 370 chỉ tiêu trường mới nhận khoảng 200 hồ sơ, trong đó các ngành kỹ thuật trắc địa, thủy văn, hệ thống thông tin địa lý đang còn rất nhiều chỉ tiêu.

Đây là năm đầu tiên Trường CĐ Kinh tế đối ngoại phải xét tuyển NV3 với 300 chỉ tiêu đối với thí sinh thi ĐH khối A, D1 đạt 13 điểm trở lên; thí sinh có điểm thi CĐ theo đề thi chung khối A từ 27 điểm, khối D1 từ 24 điểm trở lên. Trưởng phòng Đào tạo Vũ Văn Hòa lo lắng: “Mặc dù thông báo tuyển NV3 nhưng trường biết rằng nguồn tuyển đối với thí sinh thi đề CĐ đã cạn vì điểm trúng tuyển NV1 của trường thuộc hàng cao nhất tại TP.HCM. Do vậy, trường phải xét tuyển NV3 cả đối với thí sinh dự thi ĐH và đang chờ hồ sơ của thí sinh gửi về”.

Thạc sĩ Phan Thị Hải Vân, Trưởng phòng Đào tạo Trường CĐ Kinh tế kỹ thuật Vinatex TP.HCM, cho biết: “Với 470 chỉ tiêu thì trường đã nhận được khoảng 400 hồ sơ nên cũng có thể an tâm”. Tương tự, Trường CĐ Kỹ thuật Lý Tự Trọng TP.HCM cũng nhận khoảng 300 hồ sơ NV3, gần đủ chỉ tiêu nhưng theo Phó Trưởng phòng Đào tạo Hồ Văn Sỹ thì: “Hy vọng thí sinh đăng ký nhập học đầy đủ vì NV2 vẫn còn nhiều thí sinh không nhập học nên lo ngại NV3 cũng như vậy”.

Tiếp tục dừng tuyển sinh nhiều ngành

Thạc sĩ Huỳnh Thị Hồng Vinh, Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo Trường ĐH Đồng Tháp, cho biết kết thúc xét tuyển NV3, trường quyết định ngưng tuyển sinh ba ngành hệ ĐH là sư phạm tin học, sư phạm kỹ thuật công nghiệp, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp và ba ngành hệ CĐ là sư phạm mỹ thuật, thiết kế đồ họa, công nghệ thiết bị trường học.

Trước đó, như Pháp Luật TP.HCM đã thông tin, Trường ĐH An Giang ngưng tuyển sinh năm ngành; Trường ĐH Hà Nội, Trường ĐH Mở TP.HCM ngưng một ngành; Trường ĐH Điện lực không tuyển sinh tại cơ sở Ninh Thuận; ĐH Đà Nẵng dừng tuyển sinh 11 ngành của các trường ĐH thành viên là Ngoại ngữ, Kinh tế, Bách khoa, Sư phạm và CĐ Công nghệ.

QUỐC DŨNG

Xét tuyển nguyện vọng 3: Nhiều trường “đói” hồ sơ

(SGGP).- Tính đến nay, thời hạn xét tuyển nguyện vọng (NV) 3 chỉ còn đúng 2 ngày nữa kết thúc nhưng tình hình nộp hồ sơ tại nhiều trường ĐH-CĐ trên cả nước khá ảm đạm. Các trường có chỉ tiêu xét tuyển nhiều đang thật sự lo lắng vì hồ sơ quá ít.

Tại TPHCM, tính đến nay lượng hồ sơ nộp trực tiếp tại nhiều trường ĐH-CĐ có xét tuyển NV3 khá thưa thớt. Trường ĐH Nông Lâm TPHCM xét tuyển 950 chỉ tiêu nhưng lượng hồ sơ nhận được hơn 400. Trong đó, các ngành cơ khí, kỹ thuật, lâm nghiệp vẫn không có sức hút với thí sinh. Tính đến cuối ngày hôm qua, Trường ĐH Văn hóa TPHCM cũng mới nhận được gần 300 hồ sơ/425 chỉ tiêu xét tuyển NV3. Trong đó, ngành Văn hóa dân tộc thiểu số nhiều khả năng sẽ không đủ chỉ tiêu để mở lớp.

Trường ĐHDL Văn Hiến nhận được khoảng 1.000 hồ sơ xét tuyển NV3. Tuy nhiên, 2 ngành Việt Nam học và Văn hóa học mới nhận được khoảng 10 hồ sơ. Đối với những thí sinh đã nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển vào 2 ngành này nhà trường sẽ thỏa thuận với thí sinh để chuyển qua học ngành du lịch hoặc ngữ văn, hoặc một ngành nào đó theo nguyện vọng, sở thích của thí sinh. Trường ĐHDL Hùng Vương TPHCM hiện đã nhận được khoảng 600 hồ sơ NV3 cho 10 ngành hệ ĐH nhưng chủ yếu tập trung vào các ngành kinh tế. Hai ngành tiếng Nhật và công nghệ sau thu hoạch không có hồ sơ nộp.

Tại khu vực ĐBSCL, nhiều trường như Trường ĐH Trà Vinh, ĐH Đồng Tháp, ĐH An Giang dù chỉ tiêu tuyển sinh nhiều nhưng thí sinh đến nộp hồ sơ khá thưa thớt. Nhiều ngành như quản lý đất đai, nuôi trồng thủy sản, sư phạm kỹ thuật công – nông nghiệp chỉ có vài hồ sơ. Khu vực Tây Nguyên và miền Trung, ĐH Tây Nguyên, ĐH Huế và một số trường tại Đà Nẵng nhiều ngành phải đối diện với nguy cơ đóng cửa vì chỉ tiêu đến 40-60 nhưng thống kê chỉ có 5-7 hồ sơ/ngành. Ở phía Bắc, ĐH Thái Nguyên, ĐH DL Hải Phòng, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, ĐHDL Hồng Đức… nhiều ngành như kỹ thuật, cơ khí, sư phạm, nhóm ngành nông – lâm nghiệp đang chờ hồ sơ.

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 118 trường ĐH-CĐ xét tuyển NV3. Hầu hết điểm xét tuyển NV3 chỉ bằng điểm sàn của bộ. Thế nhưng so với kỳ vọng tuyển sinh của các trường, cảnh xét tuyển NV3 đang rất đìu hiu, nhiều ngành có nguy cơ phải đóng cửa, thậm chí có trường đứng trước nguy cơ đóng cửa vì số sinh viên trúng tuyển quá ít.

T.Hùng – P.Thảo

Hủy quyết định công nhận trúng tuyển do hạ điểm chuẩn

Sau khi Bộ GD-ĐT yêu cầu không triệu tập nhập học đối với số thí sinh trúng tuyển do trường hạ điểm để tuyển bổ sung, Trường ĐH Ngân hàng TPHCM đã có thông báo hủy quyết định công nhận danh sách trúng tuyển và không triệu tập nhập học đối với thí sinh trúng tuyển hệ ĐH chính quy, ngành Tài chính Ngân hàng (401) do hạ điểm so với điểm chuẩn trúng tuyển NV1. Trường cũng yêu cầu các thí sinh dự thi ngành Tài chính Ngân hàng đã nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển NV2 có điểm thi 19,5 được triệu tập nhập học theo các ngành học và bậc học đã đăng ký xét tuyển NV2.

Trước đó, ngày 16-9, ĐH Ngân hàng TPHCM đã thông báo hạ điểm chuẩn NV1, tuyển bổ sung 150 chỉ tiêu bậc ĐH với điểm trúng tuyển NV1 là 19,5 và 100 chỉ tiêu bậc CĐ với điểm trúng tuyển NV2 là 15,5 cho ngành Tài chính – Ngân hàng (điểm trúng tuyển NV1 ngành Tài chính – Ngân hàng Trường ĐH Ngân hàng TPHCM là 20 điểm). Việc làm này đã bị Bộ GD-ĐT “tuýt còi” vì vi phạm quy chế tuyển sinh.

L.Nguyên

Powered by WordPress | BestInCellPhones.com Offers Free Cell Phones. Compare Rate Plans at iCellPhonePlans.com and find Cheap Palm Pixi at iCellPhoneDeals.com.