Posts Tagged ‘tuyển sinh’

Các trường dạy nghề ở TP. HCM đang thiếu học viên

(Tamnhin.net) – Gần 100.000 chỉ tiêu của các trường dạy nghề trên địa bàn TP. HCM mới tuyển được hơn một nửa, trong khi lực luợng lao động có tay nghề đang thiếu.

Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) TP. HCM, năm học 2010 – 2011, toàn thành phố có trên 90.000 chỉ tiêu học nghề, phân bổ cho các trường cao đẳng nghề (CĐN), trung cấp nghề (TCN), trung tâm dạy nghề và các trường đại học, cao đẳng có tham gia đào tạo nghề. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 9/2010, toàn thành phố mới tuyển được 2/3 chỉ tiêu, trong đó có 9.678 thí sinh hệ CĐN, 6.386 hệ TCN, 39.453 sơ cấp nghề và 25.370 hệ đào tạo nghề dưới 3 tháng.

Theo ông Nguyễn Thành Hiệp – Trưởng Phòng dạy nghề Sở LĐTBXH thành phố, tính đến thời điểm này, khi các trường đại học, cao đẳng đều đã chấm dứt công tác tuyển sinh, tại các trường CĐN – TCN trên địa bàn đầu vào vẫn rất vắng. Nhiều ngành nghề được xã hội quan tâm, đầu ra không đáp ứng đủ nhân lực cho các doanh nghiệp (DN), vẫn rất khó tuyển sinh.

Ông Phan Quang Thái – Phó Hiệu trưởng Trường TCN Ngọc Phước, cho biết do mới hoạt động năm đầu nên trường chỉ được giao chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 800 học viên cho 8 ngành nghề thuộc hệ TCN. Tuy nhiên, trường chỉ mới tuyển được 32 học viên cho 3 ngành. Những ngành còn lại vẫn chưa có người đăng ký.

Theo ông Trần Thành Kiên – Phó phòng đào tạo Trường trung cấp Kỹ thuật và nghiệp vụ Nam Sài Gòn, trường ông có chức năng đào tạo 14 nghề hệ TCN, gồm: quản trị mạng máy tính, thiết kế đồ họa; kỹ thuật lắp ráp, sửa chữa máy tính; xử lý dữ liệu tin học; dịch vụ nhà hàng; hướng dẫn viên du lịch, điện công nghiệp, cắt gọt kim loại, kỹ thuật hàn… Tuy nhiên, do chỉ tiêu năm nay mới chính thức nhận được nên nhiều ngành “hot” như: quản trị máy tính, thiết kế đồ họa, dịch vụ nhà hàng, điện tử dân dụng, công nghệ ô tô, cắt gọt kim loại… mới tuyển được rất ít, nên cửa trường vẫn rộng mở cho những thí sinh muốn theo học những nghề này.

Lãnh đạo các trường nghề đều cho rằng, hiện nay nguồn tuyển sinh của nhà trường rất bị động, mạnh trường nào quảng bá trường đó, tuyển sinh không có hệ thống tập trung. Ông Phan Bửu Toàn – Trường CĐN du lịch Sài Gòn cho biết, cùng thời điểm này năm 2009, trường tuyển được 1.910 sinh viên nhưng năm nay con số này là 858.

Hiện nay, hệ thống trường nghề tuyển sinh 3 đợt trong năm, các trường còn lại có mã số hồ sơ tuyển sinh khác nhau và chính điều này khiến thí sinh muốn học nghề không biết lấy thông tin ở đâu. Trong khi đó, các trường trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng có đầy đủ mã số tuyển sinh cụ thể. Điều đó khiến các trường nghề bị lép vế và dẫn đến khâu tuyển sinh vốn khó khăn lại càng khó khăn thêm.

An Nhiên

Trường dạy nghề muốn liên kết tuyển sinh

(Dân Việt) – Nhiều trường dạy nghề trên địa bàn TP. HCM đang đề xuất Bộ LĐ-TB&XH thay đổi phương án tuyển sinh khối trường nghề để đảm bảo thu hút được thí sinh, thay vì chờ “vét” thí sinh sau kỳ thi ĐH, CĐ.

Vắng bóng học viên

Tới thời điểm này, hầu hết các trường nghề trên địa bàn TP. HCM đều chưa tuyển đủ chỉ tiêu, dù các trường CĐ, ĐH đã kết thúc tuyển sinh. Một số ít trường “may mắn” cũng chỉ tuyển được khoảng 2/3 chỉ tiêu.

Học viên tại Trường Trung cấp nghề Thủ Đức trong một giờ thực hành.

Ông Phan Hữu Toàn, Trường CĐ nghề Du lịch Sài Gòn dẫn chứng: “Năm 2009, số học viên đăng ký học hệ trung cấp và sơ cấp nghề của trường lần lượt là 1.311 và 392 học viên, nhưng 9 tháng đầu năm 2010 tụt thấp chỉ còn 486 và 266. Từ đây đến cuối năm, nếu có tuyển thêm được học viên thì chắc chắn cũng rất ít”.

Trường CĐ nghề Kinh tế Kỹ thuật Thiện Trụ cả mùa tuyển sinh năm 2009 chỉ tuyển được 50 học viên hệ CĐ nghề và 93 học viên khóa đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng), riêng hai hệ trung cấp và sơ cấp nghề vẫn ngậm ngùi với việc không có học viên. Trường Trung cấp nghề Lê Thị Riêng mới chỉ tuyển được 175 thí sinh sơ cấp nghề, bậc trung cấp nghề vẫn trống.

Tuyển sinh nghề đang ngày càng khó khăn vì học viên hiện chỉ coi học nghề là “phao cứu sinh” sau khi trượt CĐ, ĐH. Ngược lại, sự thiếu hụt học viên khiến việc xây dựng đội ngũ giảng viên càng khó do trường không đủ kinh phí. Đây là cái vòng luẩn quẩn khiến các đơn vị đào tạo nghề ngày càng bấp bênh.

Liên kết tuyển sinh: Gỡ khó cho cả đôi bên

Ông Lê Trọng Sang – Phó Giám đốc thường trực Sở LĐ-TB&XH TP.HCM cho biết, về đề xuất liên hiệp các trường, Sở sẽ bàn bạc cụ thể với thầy cô từng trường nghề và trình với Bộ LĐ-TB&XH trong thời gian sớm nhất. Ngoài ra Sở sẽ tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ cho các trường tư thục để tăng sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng đào tạo.

Đứng trước những khó khăn thực tế, đại diện các trường đã đề xuất nhiều giải pháp, hướng khắc phục. Trong đó, đề xuất “liên kết trường nghề thành một khối” của ông Phan Hữu Toàn đã nhận được rất nhiều sự hưởng ứng và quan tâm.

Theo ông Toàn, công tác tuyển sinh và đào tạo nghề hiện nay tuy nhiều nhưng đa phần đơn lẻ, mỗi trường đều “tự thân vận động”, do đó tiếng vang và uy tín xã hội không cao, không gây được sự chú ý, thu hút người học.

Việc liên kết các trường sẽ đem lại nhiều tích cực và hệ thống nghề sẽ tạo được hiệu ứng xã hội tốt hơn. Tất nhiên, mỗi trường vẫn sẽ đảm bảo đào tạo ngành nghề theo chức năng đặc thù của mình, không hề có chuyện giẫm chân lên nhau.

Cụ thể, các trường sẽ đề xuất Sở LĐ-TB&XH kiến nghị với Bộ LĐ-TB&XH cho phép các trường nghề tuyển sinh như các trường ĐH, CĐ chính quy để tạo sự công bằng và cạnh tranh hơn. “Nếu trường nghề cho ra những lao động hoặc kỹ sư yếu kém sẽ kéo lùi sự phát triển kinh tế. Sự thật là số học viên hiện tại của trường chúng tôi hơn 80% chỉ mới tốt nghiệp THCS.

Với đầu vào như thế thì đầu ra thật sự không thể đảm bảo một nguồn nhân lực tiên tiến…” – ông Dương Minh Kiên – Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề Quang Trung bộc bạch. Ông Kiên còn cho biết số học viên ít ỏi từ nguồn THPT hiện nay của trường hết 99% là rớt tốt nghiệp. Ở thời điểm hiện tại, việc tuyển sinh học viên đã tốt nghiệp THPT là gần như không thể.

Nguyên Nghi

Phải luyện thi mới đậu?

PN – “Không thể tưởng tượng nổi, trong một kỳ thi cao học (CH) mà 44,5% số câu hỏi trong đề thi môn tiếng Anh được copy từ tài liệu ôn tập. Còn gì là công bằng nữa?”, anh H. – một thí sinh tham dự kỳ thi tuyển sinh CH của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đợt cuối tháng chín vừa qua thất vọng nói với chúng tôi.

Làm đề thi bằng copy + paste: bình thường (!?)

Kỳ thi CH nêu trên diễn ra vào các ngày 24, 25 và 27/9 vừa qua. Có 747 thí sinh (TS) dự thi vào 20 chuyên ngành đào tạo, với khoảng 400 TS dự thi môn ngoại ngữ, trong đó, 250 TS đăng ký ôn thi tiếng Anh. Trước khi kỳ thi diễn ra, vào ngày 11/5/2010, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM có thông báo 366/ĐHSP – SĐH 2010 nêu rõ kế hoạch ôn tập: các môn cơ bản và cơ sở ôn 45 tiết/môn, học phí 600.000đ/môn; môn tiếng Anh ôn 100 tiết, học phí 800.000đ. Khóa ôn tập được khai giảng vào các ngày 5, 6 và 8/6/2010. Riêng môn tiếng Anh, nội dung ôn tập nằm trọn vẹn trong tài liệu photocopy có tên “Đề cương ôn tập tuyển sinh sau ĐH môn Anh văn trình độ B” (gọi tắt là “Đề cương ôn tập”).

Sau khi kiểm tra và đối chiếu nội dung đề thi với tài liệu ôn thi vừa nêu, chúng tôi thật sự choáng khi thấy có rất nhiều câu hỏi của đề thi được copy “nguyên xi” các bài tập trong “Đề cương ôn tập”. Cụ thể: đề thi gồm hai phần đọc và viết (tổng số điểm đạt được tối đa là 100) với tổng cộng sáu bài (mỗi bài có nhiều câu hỏi nhỏ) thì bài số 3 (10 điểm) của phần đọc nằm trọn trong bài tập reading 3 của “Đề cương ôn tập” (trang 21); 3/4 nội dung bài 2 (30 điểm) gồm text 1, text 2 và text 3, lần lượt là các bài tập reading 8, 9 và 10 (trang 25, 26 và 27).

44,5% nội dung đề thi môn tiếng Anh kỳ thi tuyển sinh

cao học Trường ĐH Sư phạm TP.HCM vào tháng chín

vừa qua được sao chép nguyên xi từ tài liệu ôn tập này

Ở phần viết: bài 1 (15 điểm) có 4/10 câu hỏi nhỏ cũng được chép từ các bài tập ở các trang 56, 84, 85 và 98 của “Đề cương ôn tập”; bài 2 (dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt) cũng có 4/10 câu hỏi nhỏ được trích từ các bài tập trong “Đề cương ôn tập”, trong đó câu 60 còn được trích lại nội dung của text 3 đã ra ở câu trên(!?).

Tổng số điểm của các câu hỏi “sao chép nguyên xi” là 44,5 điểm.

Chuyện ra đề thi CH theo kiểu “copy + paste” của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM khiến nhiều TS dự thi rất bức xúc. Nhiều giảng viên tại khoa tiếng Anh của trường cũng ngỡ ngàng trước “sự kiện” này. Một giảng viên chua chát: “Chẳng ai lại ra đề theo kiểu “dạy cái gì cho thi cái ấy” cả! Thi cử như thế thì ngày càng xuống cấp!”. Và, chúng tôi cũng cảm thấy rất rõ rệt sự “xuống cấp” khi nghe tiến sĩ Trịnh Thanh Sơn – Trưởng phòng Sau ĐH, UV Thường trực Hội đồng tuyển sinh sau ĐH của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, đánh giá về cách ra đề thi như trên là: “hoàn toàn bình thường!”. Lý lẽ để biện minh cho sự “hoàn toàn bình thường” của ông Sơn là: việc tổ chức lớp ôn tập được thông báo công khai, đề cương ôn tập cũng công bố công khai. Tuy nhiên, thông báo 366/ĐHSP – SĐH 2010 ngày 11/5 của trường nêu rõ: “Đề cương các môn cơ bản và cơ sở, TS có thể tải về từ website http://khcn-sdh.hcmup.edu.vn/sdh/tuyensinh (một website của trường), nhưng tài liệu các môn ngoại ngữ (tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung) TS mua tại phòng Sau ĐH của trường, phòng C712”.

Còn đâu công bằng?

Một TS cho biết: sau khi thi xong môn tiếng Anh, nhiều TS đã túm tụm lại để lật quyển “Đề cương ôn tập” ra xem, rồi nhảy cẫng lên khi thấy mình làm đúng. Một TS khác bực tức: “Ra đề theo kiểu “ôn cái gì thi cái nấy” thì muốn dễ đậu bắt buộc phải luyện thi”.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, đề thi CH được làm theo quy trình gồm các bước: Hội đồng tuyển sinh trường mời ba cán bộ có chuyên môn giỏi để xây dựng ba đề thi độc lập; đến ngày thi, Hội đồng sẽ bốc thăm chọn một đề, đề được duyệt lần cuối rồi đem in sao và sử dụng. Ba cán bộ được mời làm đề thi môn tiếng Anh kỳ tuyển sinh CH tại ĐH Sư phạm vừa qua đều là trưởng khoa, phó trưởng khoa và cán bộ giảng dạy tại Khoa Tiếng Anh của trường. Họ đều được cung cấp “Đề cương ôn tập” để làm căn cứ ra đề cho sát với mức độ yêu cầu. Cho nên, sao chép “nguyên xi” những bài tập trong “Đề cương ôn tập” để làm đề thi là cách làm quá dễ dãi, cẩu thả. Cách làm này sẽ khuyến khích luyện thi, khuyến khích phong trào “thi ở đâu – luyện ở đó”, “có luyện thi mới đậu”, khiến thi cử không còn thực chất và mất đi sự công bằng! Đây là những nội dung mà ngành GD-ĐT đang nỗ lực triệt tiêu trong nhiều năm qua. Đáng nói là 5 năm về trước, trường ĐH Sư phạm TP.HCM từng mắc phải lỗi này.

TS Nguyễn Hội Nghĩa – Trưởng ban Đào tạo ĐH và Sau ĐH, nguyên Giám đốc Trung tâm Khảo thí và kiểm định chất lượng, ĐHQG TP.HCM – cho rằng: “Ra đề thi kiểu sao chép nguyên xi tài liệu ôn tập là rất dở, nó sẽ không đánh giá được khả năng thực sự của người dự thi, trong khi yêu cầu này phải là số 1”.

PGS-TS Nguyễn Kim Hồng – Phó hiệu trưởng, Phó chủ tịch Hội đồng tuyển sinh Sau ĐH Trường ĐH Sư phạm, thừa nhận: “Cách ra đề như trên sẽ làm giảm đi sự tin tưởng của TS vào kỳ thi, vì những TS có học ôn sẽ thuận lợi hơn những TS không học ôn”. Ông Hồng cho biết, sẽ tổ chức họp Hội đồng tuyển sinh của trường để xem xét đánh giá mức độ “sao chép” của đề thi và có biện pháp xử lý.

Minh Nhật

Mùa tuyển sinh năm 2010: Ào ạt “mở” rồi… “đóng”?

Kết thúc mùa tuyển sinh 2010, nhiều trường phải đóng cửa nhiều ngành học. Sự “thất thu” này không phải năm nay mới có mà đã diễn ra một vài năm gần đây. Điều đáng nói là ngay cả các trường công lập cũng thất thu. Chuyện này dường như là điều không tưởng những năm trước đây. Tại sao?

Ngành “nóng” hết “hot”

Cách đây 3 năm, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị đào tạo theo nhu cầu xã hội ngành Công nghệ thông tin (CNTT) có đưa ra dự báo nhân lực ngành này trong thời gian tới sẽ cần rất nhiều. Thế nhưng, mới chỉ sau hai mùa tuyển sinh, đến nay, ngành này đã hết “hot”.

Ngành học nào đang “hot”?

GS.Trần Hữu Nghị – Hiệu trưởng Trường ĐH Dân lập Hải Phòng cho biết, năm nay ngành CNTT của trường không thể tuyển sinh, trường đang không biết giải quyết thế nào với số giảng viên theo dạy ngành này của trường. Trường ĐH Đồng Tháp năm nay cũng quyết định ngừng tuyển sinh ba ngành. Ngành chứng khoán cũng chỉ làm “nóng” được một mùa tuyển sinh, còn sau đó cũng trở về im hơi lặng tiếng. Sự mất “ngôi” không chỉ diễn ra với CNTT, chứng khoán mà còn với một số ngành khác. Đặc biệt là những ngành liên quan đến kỹ thuật, nông – lâm – ngư.

Trong khi đó, năm nay, tuyển sinh lại chứng kiến sự lên ngôi của nhóm ngành kinh tế. ĐH Tài chính – Marketing có khoảng 32.000 hồ sơ, tăng gấp đôi năm 2009, CĐ Kinh tế đối ngoại có trên 39.000 hồ sơ, tăng 18% so với năm trước. Thống kê tại nhiều trường, số hồ sơ xét tuyển NV2 vào nhóm ngành kinh tế chiếm 60-80%. Tại các trường còn tuyển NV3, số hồ sơ vào các nhóm ngành này cũng chủ yếu. Điểm chuẩn vào những nhóm ngành này khá cao. Kể cả những trường phải tuyển NV3 thì nhóm ngành này vẫn “hút” nhiều thí sinh.

“Nóng” – “lạnh” bất thường, vì sao?

Ông Nguyễn Tất Cảnh – Hiệu phó Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội – cho rằng hiện nay, có rất nhiều ngành mà sinh viên ra trường không thiếu việc làm nhưng lại khó tuyển sinh. Trong khi đó, ông cũng cho biết, ngành Công nghệ Sinh học lại rất hút thí sinh dù ra trường không dễ xin việc. “Có thể trong thời gian vừa qua, Chính phủ nhắc nhiều đến Công nghệ sinh học nên thí sinh nhầm tưởng ngành này đang cần nhiều nhân lực” – ông Cảnh nhận định.

Ông Phạm Hồng Sơn – Phó Trưởng khoa Thú y, ĐH Nông Lâm (Huế) cho rằng do thông tin đến với người học chưa chính xác nên khiến việc chọn ngành của thí sinh bị “lệch”.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng điều này lại xuất phát từ việc giao chỉ tiêu và xin chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường. Các chuyên gia nhận định sự tùy tiện, thiếu căn cứ khoa học trong việc định hướng đào tạo nguồn nhân lực cũng như định hướng nghề nghiệp cho người đi học của ngành giáo dục đã gây ra khủng hoảng thiếu, thừa lao động giữa các ngành nghề trong vài năm tới. Bộ hiện giao chỉ tiêu cho các trường dựa vào năng lực đào tạo cũng như đề xuất của các trường, không dựa vào nhu cầu thực tế. Bởi dù có dựa vào thực tế thì Bộ cũng không biết dựa vào đâu. Các trung tâm dự báo nhân lực hiện đã thực sự hoạt động có hiệu quả? Còn các trường, cứ ngành nào có vẻ “hot” thì xin mở. Sự mở ngành “vô tội vạ” đã dẫn đến hậu quả phải đóng cửa do không tuyển được thí sinh là điều tất yếu.

Không biết đến bao giờ, giáo dục ĐH Việt Nam mới thực sự đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động?

Uyên Na

Mỗi học sinh chỉ được học một lần hệ dự bị đại học

(GD&TĐ)-Bộ GD&DT vừa ban hành quy chế tuyển chọn, tổ chức bồi dưỡng và xét tuyển vào học trình độ ĐH, CĐ, TCCN đối với học sinh hệ dự bị đại học. Theo đó, đối với trường dự bị đại học dân tộc (DBĐHDT) mỗi học sinh chỉ được học một lần hệ dự bị đại học. Các đối tượng đang học hoặc đã tốt nghiệp ĐH, CĐ tại các cơ sở giáo dục không được xét tuyển vào học hệ dự bị đại học (DBĐH).

Đối tượng được xét vào học hệ DBĐH là học sinh thuộc nhóm ưu tiên 1 và thuộc khu vực 1 quy định tại Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy hiện hành, có hộ khẩu thường trú 3 năm trở lên tính đến ngày xét tuyển.

Để được tuyển chọn, đối với trường DBĐH, học sinh phải tốt nghiệp THPT theo hình thức giáo dục chính quy hoặc GDTX, TCCN, trung cấp nghề (TCN), trung học nghề; đã dự thi tuyển sinh ĐH hệ chính quy các khối A, B, C, D (trừ các ngành năng khiếu) nhưng không trúng tuyển; không có môn thi nào bị điểm không và ngay trong năm dự thi tuyển sinh ĐH hệ chính quy, đạt điểm vào học hệ DBĐH do các cơ sở giáo dục có chỉ tiêu hệ DBĐH, trường DBĐH quy định.

Đối với trường DBĐHDT, học sinh có đủ các điều kiện trên, nhưng chưa được tuyển chọn vào các trường DBĐH hoặc các cơ sở giáo dục có chỉ tiêu tuyển hệ DBĐH, thì được tuyển chọn vào học ở các trường DBĐHDT.

Học sinh nộp đơn đăng ký xét tuyển vào học hệ DBĐH trước ngày 20/9 năm dự thi đại học tại các cơ sở giáo dục có chỉ tiêu tuyển hệ DBĐH theo phân vùng quy định

Chỉ tiêu học hệ DBĐH cho các cơ sở giáo dục hàng năm do Bộ GD&ĐT giao và công bố công khai.

Theo quy chế này, học sinh không thi đủ 3 môn cuối mỗi học kỳ không thuộc diện xét tuyển vào ĐH, CĐ, TCCN.

Những học sinh không đủ điều kiện xét tuyển vào học ĐH, CĐ, TCCN và không đủ điều kiện lưu ban sau khi học xong năm học thứ nhất DBĐH sẽ trả về địa phương.

Những học sinh sau khi học hệ DBĐH, nếu không có nguyện vọng xét tuyển vào học ĐH, CĐ, TCCN mà có nguyện vọng đăng ký dự thi tuyển vào các cơ sở giáo dục thì được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng và khu vực quy định tại Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy, Quy chế tuyển sinh TCCN hiện hành.

Học sinh đủ điều kiện xét tuyển vào học ĐH, nhưng có nguyện vọng học CĐ hoặc TCCN và học sinh đủ điều kiện xét tuyển vào học CĐ nhưng có nguyện vọng học TCCN phải làm đơn kèm bản kết quả học tập và rèn luyện trong thời gian học DBĐH, gửi cơ sở giáo dục có nguyện vọng học xem xét tiếp nhận vào các ngành học cùng khối thi.

Bảo lưu kết quả cho những học sinh trúng tuyển học hệ DBĐH như: thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc đang học hệ DBĐH bị ốm dài ngày, có xác nhận của bệnh xá hoặc bệnh viện (thời gian bảo lưu kết quả của học sinh, Hiệu trưởng nhà trường xem xét và quyết định).Bài kiểm tra, bài thi và các tài liệu liên quan đến công tác tuyển sinh, bồi dưỡng được bảo quản và lưu trữ ít nhất một năm.

Hàng năm, các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tiếp nhận học sinh đã học xong hệ DBĐH theo chỉ tiêu do Bộ GD&ĐT giao. Các cơ sở giáo dục có chỉ tiêu hệ DBĐH tổ chức khai giảng trong tháng 10 của năm học.

Quy chế này có hiệu lực từ 27/11.2010.

Lập Phương

Tình hình tuyển sinh tại các trường dạy nghề ở TP. Hồ Chí Minh năm 2010:“Thừa thầy, thiếu thợ” do trường phải “tự bơi”

“Thừa thầy, thiếu thợ” là nhận định chung tại Hội nghị đánh giá tình hình tuyển sinh khối cao đẳng, trung cấp nghề năm 2009 và 9 tháng đầu năm 2010 liên ngành Giáo dục và LĐ-TB&XH TP.Hồ Chí Minh tổ chức ngày 12-10.

Thiếu chính sách hỗ trợ, nhiều trường nghề tại TP. Hồ Chí Minh

gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh.

Báo cáo nhanh của Sở LĐ-TB&XH TP. Hồ Chí Minh cho biết, mặc dù còn tới 2 tháng nữa mới kết thúc năm học 2010 nhưng khả năng tuyển sinh thêm thí sinh đạt bằng chỉ tiêu năm 2009 của khối các trường cao đẳng, trung cấp nghề đã là rất khó. Tính tới cuối tháng 9-2010, trong tổng số 58 trường cao đẳng và trung cấp nghề trên địa bàn thành phố mới chỉ tuyển được tổng cộng gần 9.700 chỉ tiêu cao đẳng và trên 6.300 chỉ tiêu trung cấp nghề ( thấp hơn 1000 chỉ tiêu cao đẳng và hơn 4000 chỉ tiêu trung cấp so với năm 2009). “Đây là một thực trạng chung của nhiều trường do tâm lý e ngại của thí sinh về cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp tại các trường nghề” – Ông Nguyễn Thành Hiệp, Trưởng Phòng dạy nghề (Sở LĐ-TB&XH TP. Hồ Chí Minh) nhìn nhận.

Đáng quan ngại, khi nhiều trường đăng tuyển sinh tới hàng ngàn chỉ tiêu ở cả hai hệ cao đẳng và trung cấp nghề nhưng chỉ tuyển được số lượng thí sinh “đếm được trên đầu ngón tay”. Thầy Xuân Thái (Trường trung cấp nghề Ngọc Phước) phản ánh: “Vừa qua, trường đăng báo tuyển sinh tới 3 lần, với số lượng 8000 chỉ tiêu hệ trung cấp nghề nhưng khi hết thời gian tuyển sinh, tổng kết lại thì chỉ vỏn vẹn có 32 hồ sơ được đăng ký. Hiện Ban giám hiệu nhà trường đang rất đau đầu vì thời gian kết thúc năm chỉ còn vài tháng mà công tác tuyển sinh của trường vẫn chưa hoàn tất”. Thầy Thái chia sẻ, hiện nay các trường tư thục nghề gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh nên đề nghị Nhà nước và lãnh đạo hai bộ GD-ĐT và Bộ LĐ-TB&XH cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách để “cứu” các trường nghề. Cùng cảnh ngộ với trường trung cấp nghề Ngọc Phước, các trường trung cấp nghề tàu thủy II, trường đại học công nghệ thực phẩm (hệ cao đẳng và trung cấp), trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật Phú Lâm, trung học nông nghiệp…, cũng chỉ tuyển được vài chục hồ sơ so với hàng ngàn chỉ tiêu tuyển sinh đăng ký đầu năm học.

Ông Nguyễn Thành Hiệp thừa nhận các nguyên nhân chính khiến nhiều trường cao đẳng và trung cấp nghề trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đang phải “lận đận” trong công tác tuyển sinh là ngoài tâm lý e dè của phụ huynh, học sinh, còn phải nhận thấy thực trạng chung là học phí học nghề vẫn còn cao hơn cả các trường chuyên nghiệp; thang bậc lương giữa các trường trung cấp nghề và hệ trung cấp chuyên nghiệp còn chưa rõ ràng; các chính sách hỗ trợ các trường nghề chưa thu hút được thí sinh đăng ký.

Theo ông Hiệp, cần thiết phải nhập hệ trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp làm một để thống nhất đào tạo và giải quyết khó khăn cho các trường nghề trong bối cảnh “thừa thầy, thiếu thợ”.

Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo nhiều trường cao đẳng và trung cấp nghề trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cũng kiến nghị, ngoài việc các trường tự tìm giải pháp đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp thì Nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích, miễn giảm học phí cho học sinh học nghề và đảm bảo chuẩn đầu ra để kích cầu nguồn lao động qua đào tạo nghề cho xã hội.

Lê Anh

Các trường nghề cần liên kết để thu hút thí sinh

(VOH) – “Các trường nghề cần phải đổi mới, đặc biệt cần phải liên kết lại thì mới hi vọng thu hút thí sinh” đó là ý kiến được đông đảo các đại biểu đồng tình khi tham dự buổi họp đánh giá tình hình tuyển sinh học nghề trên địa bàn TP. HCM, tổ chức tại Sở Lao động thương binh và xã hội vào sáng nay.

Theo số liệu tại các trường nghề, cho đến thời điểm này, đa số các trường đều không tuyển đủ chỉ tiêu, thậm chí giảm gần 40% so với năm ngoái. Nhiều trường, thậm chí chỉ tuyển sinh được vài học sinh, như trường Trung cấp nghề An Đức, chỉ mới tuyển được 6 thí sinh, trường Trung cấp nghề xây lắp điện được 30 thí sinh, mặc dù chỉ tiêu của trường là 400;

Trường CĐ nghề Sài Gòn dành 875 chỉ tiêu cho hệ CĐ, nhưng mới tuyển được 160 học sinh, Trường CĐ nghề Giao thông vận tải T.Ư III có 225 chỉ tiêu trung cấp, nhưng chưa tuyển sinh được em nào; Trường TC nghề Kỹ thuật công nghệ Hùng Vương mới tuyển được gần 400 học sinh trong khi chỉ tiêu của trường là 1025 chỉ tiêu, ,…

Trước tình hình đó, đại diện của các trường đã bày tỏ nhiều trăn trở để làm sao cùng tháo gở những khó khăn, vướng mắc hiện nay của các trường nghề. Trong đó, vấn đề liên kết giữa các trường nghề được nhiều đại biểu quan tâm. Ông Phan Bửu Toàn-Hiệu phó Trường Cao đẳng nghề du lịch Sài Gòn nói:

Một số đại biểu cho rằng: Thiết bị dạy học tại các trường nghề hiện được cho là cũ kỹ, lạc hậu so với sự phát triển của xã hội, đó cũng là một trong những lý do khiến doanh nghiệp không muốn tuyển lao động từ trường nghề; Học sinh trường nghề khi tốt nghiệp ra trường không được trả lương cao, lại khó tìm việc làm. Hiện nay, các ngành kỹ thuật chủ chốt của các trường nghề như tiện, hàn, cơ khí rất khó tìm được học viên, trong khi nhu cầu học các ngành như kế toán, du lịch, hay nhà hàng rất đông học sinh đăng ký. Ông Lê Đình Hùng- Phó Hiệu trường Trường Trung cấp Nghề Củ Chi lí giải:

Nhiều đại biểu thì cho rằng để có thể thu hút được học sinh đến với trường nghề thì trước tiên, nhà nước phải hỗ trợ thêm kinh phí cho trường nghề trang bị máy móc. Bên cạnh đó, cũng cần một chế độ đãi ngộ tốt cho giáo viên dạy nghề để tìm được những người giỏi để nâng chất đào tạo nghề.

Trong khi đó, giám đốc một trường trung cấp nghề khác ở quận Thủ Đức, TPHCM cho rằng hiện nay nhiều trường nghề gặp khó khăn vì không thể biết hết nhu cầu của xã hội, nên cũng không hoạch định chiến lược đào tạo. Cứ thiếu đến đâu thì tuyển đến đó nên nhiều khi học sinh ra trường không làm đúng nghề được đào tạo.

Theo Lê Nguyễn Thanh Hiệp-Trưởng phòng dạy nghề- Sở LĐTB và XH thì năm nay, mục tiêu của Sở Lao động Thương binh Xã hội TPHCM là phải tìm ra mô hình gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, cố gắng chuẩn hóa đầu ra. Cụ thể là sở sẽ tiến hành khảo sát nhu cầu của một số lớn doanh nghiệp trên địa bàn để tìm ra các ngành cần tập trung đào tạo, sau đó sẽ gửi các thông tin thu thập được cho các trường để định hướng. Ông Hiệp nói thêm:

Trường nghề mỗi năm một vắng

(TBKTSG Online) – Theo thống kê của Sở Lao động Thương binh Xã hội TPHCM, mùa tuyển sinh năm nay toàn thành phố chỉ mới tuyển được 2/3 chỉ tiêu trong khi mục tiêu đề ra là đến năm 2015 sẽ nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 70% trên tổng số lao động làm việc (ước tính hiện nay thành phố có khoảng hơn 4 triệu lao động).

Công Sang

Trong khi nhu cầu lao động có nghề ngày càng tăng thì các trường nghề lại khó tuyển học sinh. Ảnh: TL.

Học sinh mỗi năm một vắng

Tại hội thảo đánh giá tình hình tuyển sinh tại các trường dạy nghề trên địa bàn thành phố diễn ra sáng 12-10, các trường nghề cho biết lượng học sinh ghi danh giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo ông Nguyễn Thành Hiệp, Trưởng phòng dạy nghề thuộc Sở Lao động Thương binh Xã hội TPHCM, hiện nay trong 52 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trường dạy nghề dưới 1 năm thì năm 2010 chỉ tuyển được hơn 16.000 thí sinh, và 3 tháng cuối năm 2010 sẽ khó lòng tuyển đủ chi tiêu. Trong khi đó năm 2009, các cơ sở này tuyển sinh được gần 21.500 thí sinh và vẫn không lấp đầy chỗ trống.

Tình hình này còn bi đát hơn khi nhìn ở cấp độ từng trường riêng biệt. Như trường Trung cấp nghề Nhân Trụ, An Đức, Nhân Đạo… không tuyển được học sinh nào cho hệ cao đẳng nghề. Và trường Cao đẳng nghề Kinh tế Kỹ thuật Thiên Trụ từ đầu năm tới nay không tuyển được bất cứ học sinh nào cho tất cả các hệ từ cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho đến đào tạo dưới một năm.

Trong hội thảo sáng 12-10, bên cạnh các nguyên nhân đã có từ lâu như thiếu thốn thiết bị dạy học, chế độ luơng bổng cho giáo viên, chính sách hỗ trợ cho học sinh sau khi tốt nghiệp… thì vấn đề quảng bá thông tin đuợc đại biểu các trường quan tâm nhiều nhất. Theo các đại biểu, có quá ít phương tiện truyền thông hỗ trợ trường trong việc quảng bá, giới thiệu mình tới các em học sinh và các bậc phụ huynh.

Trong khi các kỳ tuyển sinh ở đại học, cao đẳng luôn được báo chí, tin tức phổ biến rộng rãi, là mối quan tâm của cả nuớc thì các trường nghề lại phải đứng ngoài và chờ đợi khi học sinh đã rớt hầu hết các nguyện vọng.

Phần lớn các trường cho biết phải tự quảng bá thông qua báo chí, thư mời, tuy nhiên chi phí cao nhưng không mang lại hiệu quả thiết thực. Trường Trung cấp nghề Ngọc Phước cho biết trong năm nay đã đăng báo ba lần, gửi 8.000 thư mời tới các gia đình nhưng chỉ có 32 học sinh đến ghi danh.

Cần một sân chơi riêng

Ông Phan Bửu Toàn, Hiệu phó trường Cao Đẳng Du lịch Sài Gòn kiến nghị tổ chức ngày hội việc làm cho các trường dạy nghề. “Chúng tôi cần một ngày hội như thế để có thể giới thiệu mình tới các trường từ trung học cơ sở cho tới trung học phổ thông, góp phần hình thành định hướng nghề nghiệp cho các em ngay từ khi còn ngồi ở ghế nhà trường”, ông Toàn nói thêm.

Ông cũng cho biết ở hội chợ này, bên cạnh việc hướng nghiệp, các trường phải phát huy thế mạnh ngành mình đào tạo bằng cách tổ chức các gian hàng mà ở đó các học viên đã qua đào tạo sẽ thể hiện tay nghề của mình, kích thích niềm đam mê của các em học sinh.

“Do đó rất cần sự tham gia của các trường dạy nghề trong địa bàn thành phố, để hội chợ thực sự phong phú, bắt mắt và chuyên nghiệp hơn”, ông Toàn cho biết thêm.

Kiến nghị của ông Toàn đã dành đuợc sự ủng hộ của đại biểu các trường, vì đây sẽ là một kênh thông tin riêng giúp họ chủ động hơn trong việc tuyển sinh, quảng bá hình ảnh của mình.

Tuyển sinh là việc của trường

TT – Phương thức tuyển sinh hiện nay đang có gì bất ổn và có còn phù hợp với thực tế? Cần thay đổi như thế nào? Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Lê Trường Tùng – hiệu trưởng Trường ĐH FPT, một trường đang áp dụng phương thức tuyển sinh riêng – đánh giá:
Cán bộ phòng đào tạo Trường ĐH Sài Gòn giải đáp thắc mắc cho thí sinh trước ngày thi. Rất nhiều quy định bắt buộc thí sinh phải tuân thủ khi tham dự kỳ thi tuyển sinh – Ảnh: Như Hùng

Bộ đang tuyển sinh giúp các trường (!)

Quan điểm của tôi là tuyển sinh – tuyển chọn người vào học – là việc của trường. Mỗi trường có một chiến lược phát triển riêng, mục tiêu đào tạo cụ thể, các điều kiện mọi mặt khác nhau… nên cần có phương thức tuyển sinh riêng.

Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang tuyển sinh giúp các trường. Tất cả các trường đều tuyển như nhau dựa trên cùng một lý thuyết học phổ thông tốt thì học ĐH tốt, chưa kể đến tính may rủi do sự lựa chọn của thí sinh…

Cách tuyển sinh của trường chúng tôi vẫn phù hợp với quy chế tuyển sinh nhưng tạo cho trường một sự chủ động nhất định, chọn được đầu vào phù hợp. Ít nhất chúng tôi có quyền lắc đầu đối với những người mình nghĩ rằng không đủ tố chất theo học.

– Cách thi tuyển sinh hiện nay của Bộ GD-ĐT được các trường đồng loạt áp dụng dựa trên giả thuyết: học phổ thông tốt sẽ học ĐH tốt. Cách thi tuyển là kiểm tra những kiến thức đã học. Như vậy, nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng được yêu cầu chọn được những thí sinh phù hợp nhất với việc học ĐH, học ở những trường ĐH khác nhau.

Quan điểm của tôi là tuyển sinh – tuyển chọn người vào học – là việc của trường. Mỗi trường có một chiến lược phát triển riêng, mục tiêu đào tạo cụ thể, các điều kiện mọi mặt khác nhau… nên cần có phương thức tuyển sinh riêng.

Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang tuyển sinh giúp các trường. Tất cả các trường đều tuyển như nhau dựa trên cùng một lý thuyết học phổ thông tốt thì học ĐH tốt, chưa kể đến tính may rủi do sự lựa chọn của thí sinh…

Cách tuyển sinh của trường chúng tôi vẫn phù hợp với quy chế tuyển sinh nhưng tạo cho trường một sự chủ động nhất định, chọn được đầu vào phù hợp. Ít nhất chúng tôi có quyền lắc đầu đối với những người mình nghĩ rằng không đủ tố chất theo học.

Hình thức tuyển sinh hiện nay là chỉ nhằm đóng cái dấu đủ điều kiện học ĐH hay không bằng điểm sàn. Phân thí sinh ra làm hai loại, gây cảm giác không đạt điểm sàn giống như “công dân hạng hai”. Quan niệm xã hội hiện nay cho rằng vào trung cấp, CĐ là do không vào nổi ĐH. Cách thi cử hiện nay đang “tiếp tay” cho tâm lý và cách nghĩ đó của xã hội.

Đến lúc nào đó học ĐH là quyền, đủ tiền, thích học là được học, nếu vì điều kiện gì đó hoặc sở thích thì có thể học bằng những con đường khác nhau. Cách tuyển sinh này cũng quá nhấn mạnh đầu vào. Cách thức tổ chức tuyển sinh là do bộ không tin trường, không tin địa phương có thể làm tốt. Không thể phát triển, không thể có đổi mới và đột phá nếu như dựa trên sự không tin tưởng lẫn nhau.

* Nhưng các nhà quản lý giáo dục luôn lý giải sở dĩ phải áp dụng phương thức tuyển sinh như hiện nay vì giáo dục ĐH ở VN chưa giải quyết được mối quan hệ cung – cầu. Khi nhu cầu học ĐH luôn vượt quá khả năng đáp ứng thì phải tuyển chọn gay gắt, chặt chẽ?

- Cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn tâm lý xã hội đang cho rằng quan hệ cung – cầu là một nguyên nhân cơ bản để áp dụng hình thức tuyển sinh hiện nay nhưng thực tế không phải vậy. Cung – cầu trong giáo dục ĐH hiện nay đã có những thay đổi. Theo tôi, nó không còn ở tình trạng căng thẳng, khi cầu vượt quá cung nhiều như trước đây, buộc chúng ta phải lựa chọn những hình thức tuyển sinh khắt khe và căng thẳng. Như kỳ thi tuyển sinh năm nay, báo chí đã phản ánh nhiều trường không tuyển được.

Thực tế mỗi năm chúng ta có khoảng 1 triệu HS hoàn thành chương trình THPT. Trong đó khoảng 850.000 học sinh tốt nghiệp. Khoảng 85-90% trong số đó thi ĐH, cộng với số thí sinh tự do dồn lại từ năm trước, tôi ước chừng có khoảng 900.000 thí sinh thực tế. Đó chính là cầu.

Trong khi tổng chỉ tiêu tuyển mới của ĐH, CĐ chính quy được công bố là 560.000, chưa tính những số chỉ tiêu được bổ sung cho các trường, ngành mới. Bên cạnh đó còn các loại chỉ tiêu như đào tạo theo nhu cầu xã hội, liên thông, tại chức…

Chưa kể cả nước có 135 trường đào tạo hệ CĐ nghề với trung bình 1.500 chỉ tiêu/trường. Như vậy, nhìn vào nguồn đầu vào ĐH và thực tế xét tuyển NV2, NV3 khó khăn của các trường ĐH, CĐ hiện nay sẽ thấy chúng ta đã ở tình trạng mấp mé cung vượt cầu chứ không phải ngược lại. Đã đến lúc không phải các trường ĐH muốn làm gì cũng được, người học đã có quyền và nhiều cơ hội lựa chọn. Nếu không hấp dẫn, người học sẽ không chọn trường đó.

* Vậy theo ông, phương thức tuyển sinh ĐH cần thay đổi theo hướng như thế nào?

- Cải tiến tuyển sinh trước hết là phải xem lại quan hệ cung – cầu đối với giáo dục ĐH hiện nay. Phải nhìn nhận lại mối quan hệ này, từ đó có cách nhìn khác, cách tiếp cận khác để giảm căng thẳng, áp lực không cần có đối với việc tuyển chọn đầu vào ĐH. Có rất nhiều giải pháp đưa ra hiện nay mang tính tình thế. Ví dụ như gần đây tôi thấy lãnh đạo Bộ GD-ĐT nói việc chỉ tổ chức một đợt thi ĐH thay vì hai đợt… Những giải pháp này chỉ là cải tiến nho nhỏ, không giải quyết được tận gốc của vấn đề, không tạo ra sự thay đổi.

Tuyển sinh ĐH, CĐ đang cần một quá trình chuyển đổi phương thức mà cuối cùng là giao hết cho các trường, là việc của các trường ĐH, CĐ. Hiện nay do bối cảnh xã hội có thể chưa làm được ngay nhưng phải bắt đầu làm sớm, dần dần chuyển về để trường thực hiện.

* Cơ quan quản lý giáo dục lo ngại không tuyển sinh có thể dẫn đến tình trạng các trường tuyển sinh với chất lượng thấp?

- Tôi luôn cho rằng việc tuyển sinh là của các trường. Các trường có thể chịu trách nhiệm trước xã hội về cả một tổng thể lớn là quá trình đào tạo, dạy – học, cấp bằng tốt nghiệp… Vậy tại sao lại không thể chịu trách nhiệm về việc tuyển sinh. Tuyển sinh là khâu dễ nhất trong cả quy trình đào tạo ĐH. Phải tập trung cho khâu tuyển sinh như hiện nay mất sức, mất quá nhiều thời gian. Nếu cầu thật sự vượt cung đáng kể thì cần có bộ lọc. Nhưng khi cung và cầu đã xấp xỉ thì nên coi việc ràng buộc bằng xác định chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm theo những tiêu chí nhất định là một sự tính toán, hạn chế cho các trường rồi. Quan trọng nhất vẫn là kiểm soát, sàng lọc trong quá trình đào tạo.

Chất và lượng

Mùa tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2010 kết thúc với một thực tế đáng báo động khi danh sách các ngành học ở một số trường ĐH được tuyên bố ngưng đào tạo tăng đột biến so với năm 2009. Trong đó, những ngành mang ý nghĩa quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của các địa phương như Kỹ thuật cơ khí, Nông lâm qua nhiều năm lay lắt cũng chính thức khai tử. Vậy nguyên nhân do đâu?

Nhìn lại những mùa tuyển sinh gần đây, nhiều chuyên gia bỗng giật mình khi nhiều ngành nghề đào tạo mọc lên như nấm. Nếu như mùa tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2009, cả nước có hơn 4.300 ngành học thì đến năm 2010, con số này đã nhảy lên hơn 4.500 ngành học. Đối với những trường ĐH mới được thành lập hay nâng cấp từ CĐ, tốc độ mở ngành còn nhanh hơn nhiều.

Với phong trào phát triển “trường ĐH đa ngành”, nhiều cơ sở đào tạo vừa được nâng cấp lên ĐH đã ôm đồm một loạt ngành nghề từ khoa học, kỹ thuật, đến kinh tế lẫn khoa học xã hội… Và như thế quy mô đào tạo ở các trường được phình to qua mỗi mùa tuyển sinh, bất chấp đội ngũ giảng viên, các điều kiện đảm bảo chất lượng vẫn như cũ.

Phải chăng việc quản lý và mở ngành đào tạo đang có vấn đề, cứ đề xuất là được đồng ý mà không cần tính đến khảo sát, nghiên cứu nhu cầu phát triển thực tế của xã hội? Thực tế, yêu cầu và điều kiện đăng ký mở ngành đào tạo của Bộ GD-ĐT ngoài yêu cầu về các điều kiện thiết yếu như đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất còn có yêu cầu cơ sở đào tạo phải chứng minh được cơ sở khoa học về nhu cầu nguồn nhân lực. Tuy nhiên, các trường không đảm bảo các yêu cầu vẫn được cấp chỉ tiêu.

Từ cách quản lý đến phương pháp tuyển sinh còn nhiều khiếm khuyết như hiện nay, nhiều trường ĐH (ngoài công lập, công lập và một số ĐH vùng) đã nghẹn ngào khai tử nhiều ngành đào tạo vì không có người học. Tổng kết cả 3 NV, nhiều trường ĐH tại TPHCM như ĐHDL Văn Hiến, ĐHDL Hùng Vương, ĐHDL Ngoại ngữ – Tin học… phải chính thức ngưng đào tạo nhiều ngành như tiếng Nhật, tiếng Trung, Công nghệ sau thu hoạch, Điện tử viễn thông, Văn hóa học, Việt Nam học… vì chỉ có lèo tèo vài thí sinh đến làm thủ tục nhập học.

Đặc biệt, ngay cả ĐH Sư phạm TPHCM, ĐH Nông lâm TPHCM cũng “méo mặt” với một số ngành như song ngữ Nga – Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc vì luôn rơi vào cảnh “ế ẩm”. Chưa dừng lại ở đó, hàng loạt ngành đào tạo của ĐH Đà Nẵng, ĐH Huế, ĐH Thái Nguyên như Vật liệu và cấu kiện xây dựng, Sư phạm giáo dục đặc biệt, Công nghệ kỹ thuật công trình thủy, Công nghiệp và công trình nông thôn, Cơ khí chế biến bảo quản nông sản thực phẩm, Chế biến lâm sản cũng nhiều khả năng dừng đào tạo.

Nghiêm trọng hơn, tại ĐH An Giang, ĐH Đồng Tháp, ĐH Tây Nguyên, nhiều ngành có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương như Mỹ thuật công nghiệp, Chăn nuôi, Trồng trọt, Thủy sản… sau nhiều năm cố gắng duy trì, năm nay đành buông xuôi vì quá ít người học. Và cứ thế, một điều rất lạ được lặp đi lặp lại: dù ngưng đào tạo hoặc “khai tử” nhưng cứ đến hẹn, trường lại xin chỉ tiêu và lại được chấp thuận.

Thực tế, mục tiêu mỗi tỉnh đều có một trường ĐH nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương đã gần như hoàn thành (cả nước chỉ còn tỉnh Đắc Nông là chưa có trường ĐH-CĐ). Tuy nhiên, những gì mà các cơ sở đào tạo đã và đang thể hiện xem ra khó có thể đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Hơn bao giờ hết, đã đến lúc cấp quản lý cần đặt dấu chấm hết cho việc đào tạo theo kiểu phong trào, thiếu định hướng; phải dự báo nguồn nhân lực, hoạch định chiến lược đào tạo một cách khoa học, chú trọng đến chất lượng đào tạo.

Thanh Minh

Powered by WordPress | BestInCellPhones.com Offers Free Cell Phones. Compare Rate Plans at iCellPhonePlans.com and find Cheap Palm Pixi at iCellPhoneDeals.com.